"Trí tuệ giàu lên nhờ cái nó nhận được,con tim giàu lên nhờ cái nó cho đi" - Victor Hugo.You can make a living by what you get, but you can make a life by what you give- Winston Churchill

Wednesday, April 20, 2011

Ước mơ, ước mơ và thực tế

Học gạo mà thành, cũng không vì thế mà không thể ước mơ. Vào trang web của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước thấy không khác cái chợ miền núi quê mình ngày không phải phiên Xin đặt nhờ tên các vị giáo sư đáng kính ở đây để sau này tiện tham khảo :)

Thành viên Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước nhiệm kỳ 2009-2014
Chủ tịch Hội đồng:
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Phó Chủ tịch Hội đồng:
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Bành Tiến Long, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tổng Thư ký Hội đồng:
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Trần Văn Nhung, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Các Uỷ viên Hội đồng:
1. Giáo sư, Tiến sĩ Từ Quang Hiển, Giám đốc Đại học Thái Nguyên.
2. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Dương Ngọc Hải, Viện trưởng Viện Cơ học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
3. Giáo sư, Tiến sĩ Võ Xuân Minh, Trường Đại học Dược Hà Nội.
4. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Xuân Quỳnh, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Viện Nghiên cứu Điện tử - Tin học - Tự động hoá, Bộ Công thương.
5. Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Dũng, Viện trưởng Viện Tâm lý học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
6. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Đào, Viện Khoa học Công nghệ Giao thông vận tải.
7. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận, Hiệu trưởng Trường Đại học Hoà Bình.
8. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Yêm, Phó Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân.
9. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Đĩnh, Viện trưởng Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
10. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Thanh, Trung tướng, Học viện Quốc phòng.
11. Giáo sư, Tiến sĩ Mai Trọng Nhuận, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.
12. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân.
13. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
14. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Giảng, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
15. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Trần Ngọc Thêm, Chủ nhiệm Khoa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
16. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Quang Côn, Viện Sinh thái tài nguyên sinh học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
17. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.
18. Giáo sư, Tiến sĩ Đào Xuân Học, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
19. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Hoàng Kiếm, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
20. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Hà Huy Khoái, Viện Toán học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
21. Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hữu Nghĩa, Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hoò Chí Minh.
22. Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thu Hà, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.
23. Giáo sư, Tiến sĩ Lê Chí Quế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
24. Giáo sư, Tiến sĩ Bạch Thành Công, Chủ nhiệm Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
25. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Văn Liên, Bộ Xây dựng.
26. Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Gia Khánh, Học viện Quân y

Có thể tham khảo thêm qua tiện ích Web of Science của Havard cho tiện.
Hay qua trang của THOMSON REUTERS thì cũng okie

Chúc mọi người ai quan tâm cùng vui vẻ

Thursday, April 7, 2011

Remove feeds

Remove feeds của 2 blogs phamvietdaonv và TS Nguyễn Xuân Diện. Tưởng hay ho lắm nhưng rồi cũng chỉ là phường "điếu đóm" mà thôi.
Cũng bởi suy nghĩ của mình mỗi ngày mỗi khác chăng?

Thursday, March 24, 2011

Humboldt University - 200 years anniversary

Kỷ yếu Humboldt 200 năm. Để đây lúc nào rỗi thì tìm đọc.

Humboldt University is considered the model's first modern university in the world and the inspiration of many renowned universities. An editorial board composed of scientists and educational reputations (Ngo Bao Chau, Pierre Darriulat, Cao Huy Thuan, Hoang Tuy, Nguyen Xuan Xanh, Pham Xuan Yem) is preparing to launch bench 200 Proceedings of Humboldt University . In addition to presenting the history of Humboldt University and its influence as the "University of Excellence", this book is a chance of educators reviewed the development of the world's universities with special emphasis on China, the neighboring countries which shares many similarities with Vietnam. History and tradition of social education from Vietnam Quoc Tu Giam, French and current status will be reviewed and analyzed.

“Trước mọi sự xô bồ và khắc nghiệt của cuộc sống, nhà trường càng cần phải là cái đối ứng, thậm chí, cái đối cực để nuôi dưỡng lý tưởng,không để lý tưởng bị sa đọa và suy kiệt. Hãy để cho tuổi trẻ học được cách làm chủ bản thân mình và không bao giờ chịu làm nô lệ,kể cả làm nô lệ cho nghề nghiệp và cơm áo'”.Humboldt

Mục lục - Table of contents

Lời nói đầu
Kỷ yếu Humboldt hay là Tìm lại nguồn gốc của đại học - Trương Văn Tân
Lại lỡ một chuyến tàu - Lá thư gửi Ban chủ biên
“Bàng hoàng khi bước vào đại học” - Việt Phương

Phần I
LỊCH SỬ
Nguyễn Xuân Xanh Đại học. Lịch sử một ý tưởng
Cao Huy Thuần Humboldt 1810: Giữa hai tự do
Bùi Văn Nam Sơn Lý tưởng giáo dục Humboldt - Mô hình hay huyền thoại?
Werner Jaeger PAIDEIA hay là Giáo dục Hy Lạp
Wilhelm von Humboldt Tinh thần và cơ cấu tổ chức của các thể chế khoa học cao ở Berlin

Phần II
TỔNG QUÁT
Nguyễn Quang Riệu Phát triển và giảng dạy ngành khoa học vũ trụ
Lê Đình Thắng Khoa học dịch vụ
Nguyễn Minh Thọ Những thách thức mới
Ngô Việt Trung Hệ thống các viện nghiên cứu khoa học và công nghệ ở Đức
Tôn Thất Nguyễn Thiêm Thượng nguồn và Hạ nguồn của hệ thống giáo dục đào tạo

Phần III
HOA KỲ - CANADA
Vũ Quang Việt Đại học Hoa Kỳ
Vũ Quang Việt So sánh đại học Hoa Kỳ và Việt Nam
Lâm Quang Thiệp Humboldt, Hoa Kỳ và Đại học Việt Nam
Vannevar Bush Khoa học: biên giới vô tận
Nguyễn Hải Tổng quan về hệ thống giáo dục Canada
Frank T. Rhodes Tạo dựng Tương lai

Phần III
AUSTRALIA - NHẬT BẢN
Phạm Việt Hưng Nền khoa học Australia: Một kim tự tháp vững chắc!
Trần Nam Bình Tinh thần Humboldt trong các đại học Australia
& Nguyễn Đức Hiệp
Lê Thành Nghiệp Hiện trạng giáo dục và nghiên cứu tại các đại học Nhậ

Phần IV
TRUNG QUỐC
Charles Day Vật lý ở Trung Quốc
Shing-Tung Yau Khoa học và Công nghệ ở Trung Quốc
Qiang Zha Tự do hàn lâm và trí thức Trung Quốc
Box 1 Các trở ngại trên con đường chuyển hóa các Viện Đại học của Trung Quốc
Hegel Về Trung Hoa và Tinh thần khoa học

Phần V
VIỆT NAM
Ngô Bảo Châu “Môi trường đại học cần tự do tuyệt đối”
Phùng Hồ Hải Bắc cầu nhỏ qua sông hung dữ
Hà Huy Khoái Ngô Bảo Châu - tự hào, vui mừng, và suy nghĩ
Hoàng Tụy Ba vấn đề của đại học Việt Nam hiện nay
Bùi Trọng Liễu Giáo dục đại học nào cho Việt Nam?
Box 2 Bài học từ bóng đá cho quản lý đại học
Phạm Xuân Yêm Mạn đàm về đại học Việt Nam
Pierre Darriulat Chiếc búa lớn hơn
Nguyễn Văn Hiệu Wilhelm von Humboldt cũng đã bén rễ ở Việt Nam
Box 3 Các viện IIT của Ấn Độ
Lê Xuân Khoa Đại học miền Nam trước 1975. Hồi tưởng và nhận định
Trịnh Văn Thảo Đại học Việt Nam từ sụp đổ đến hồi sinh. Hoàng Xuân Hãn
Minh Thư Những tư tưởng lớn không mai một theo đời người
Nguyễn Xuân Xanh Vũ Đình Hòe - Một nhà giáo dục nhân bản và vị nhân sinh của Việt Nam
Pierre Darriulat Hồ Đắc Di. Bụt nhà không thiêng
Nguyễn Đình Trí Tạ Quang Bửu với nền giáo dục đại học
Trần Hữu Dũng Trí thức Việt Nam ở nước ngoài và đại học Việt Nam
Box 4 Vai trò đóng góp của các cộng đồng kiều dân
Huỳnh Như Phương Vấn đề con người trong nhà trường đại học
Nguyễn Q. Thắng Quốc Tử giám Việt Nam
Nguyễn Hải Một số chuyện linh tinh về giáo dục đại học Việt Nam
Vũ Hà Văn Con số 20.000
Đại học Hoa Sen Những người trẻ tuổi mong đợi gì ở các trường đại học?
Nguyễn Văn Tuấn, Vai trò của đại học trong nền kinh tế tri thức ở Việt Nam
Phạm Thị Ly
Nguyễn Văn Tuấn Tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học
Hà Dương Tường Kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam
Nguyễn Văn Tuấn Giáo dục đại học Việt Nam và Thái Lan
Giáp Văn Dương Triết lý giáo dục: Cần hay không?

PHẦN VI
TRƯỚC THỀM THẾ KỶ 21
G. Casper Ưu điểm của đại học nghiên cứu tập trung. Đại học thế kỷ 21
R. C. Levin Sự trỗi dậy của các đại học châu Á
P. G. Altbach Thế kỷ đại học châu Á?
P. G. Altbach Các đế chế Tri thức và Phát triển


Sunday, March 13, 2011

Competencies of foreign language teachers hay Những năng lực cần có của giáo viên ngoại ngữ

Modified and translated by Duong Duc Minh from
http://idiomas.tij.uabc.mx/plurilingua/volumne4no2eng/Article_David_Competencies_of_l

Năng lực giảng dạy (teaching competencies) được định nghĩa là những kiến thức, niềm tin, khả năng, năng lực, giá trị và những thủ thuật (strategies) mà các giáo viên đã sử dụng và được xác định thông qua kết quả của người học (outcome).

Phát triển
năng lực giảng dạy giúp cho giáo viên có thể giảng dạy tốt hơn trong lớp học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Chất lượng giáo dục chỉ có thể đạt được thông qua các phản hồi tích cực trong quá trình thực hành giảng dạy khi mà giáo viên biết áp dụng tất cả những kiến thức có được, sử dụng mọi khả năng của mình để khuyến khích và thúc đẩy quá trình học tập của học sinh đồng thời biết đánh giá kết quả những nỗ lực ấy của mình.

Vậy những năng lực mà giáo viên cần có gồm những gì?

+ Theo C.I.C.S UMA, IPN (Centro Interdisciplinario de Ciencias de la Salud, Unidad Milpa Alta, Instituto Politécnico Nacional) thì giáo viên cần có:
• Có kiến thức sư phạm (sử dụng công nghệ, giải thích về những thực tế xã hội, suy nghĩ.logic)
• Biết tương tác xã hội (hòa nhập với xã hội, biết giải quyết những xung đột (conflict) trong xã hội đa văn hóa)
• Biết tổ chức hoạt động dạy học (lập kế hoạch và đánh giá)
• Có tâm lý sư phạm (Psicopedagogy) (chú ý đến nhu cầu và lợi ích, chiến lược và cách thức để làm việc).
• Biết giao tiếp (nghe. nói, đọc và viết)
• Có khả năng phát triển chuyên nghiệp (đào tạo, bồi dưỡng liên tục)

+ Theo Fulquez (2007) thì giáo viên cần biết
- lên kế hoạch thực hiện quá trình dạy và học
- lựa chọn và phát triển nội dung chương trình giảng dạy
- truyền đạt đơn giản, dễ hiểu, và biết lựa chọn thông tin truyền đạt (năng lực giao tiếp)
- sử dụng công nghệ
- thiết kế và tổ chức các loại hoạt động khác nhau.
- tương tác và giao tiếp với đồng nghiệp
- tư vấn học tập (tutoring)
- đánh giá
- phản hồi và tự nghiên cứu
- liên kết với các tổ chức giáo dục của trường và sẵn sàng làm việc theo nhóm.

Một cách chung nhất, theo The European Profile for Language Teacher Education: a Frame of Reference, (2004) (cái này VN mình đang bắt đầu nhòm ngó), thì năng lực giảng dạy của giáo viên ngoài quá trình đạo tạo liên tiếp, rèn luyện chuyên nghiệp thì còn cần phải có thêm năng lực hay khả năng tự thân của mỗi người. Chúng ta có thể đặt các năng lực được đề cập dưới đây theo các nhóm như: kiến thức, khả năng, năng lực, giá trị và thái độ giảng dạy:

1. biết sử dụng ngoại ngữ thành thạo cả nói và viết. (cái này khó đối với gv ngoại ngữ đặc biệt ở miền núi)
2. biết nền văn hóa của ngôn ngữ mà mình giảng dạy.
3. biết sử dụng metalanguage.(siêu ngôn ngữ)
4. biết xác định các lý thuyết, phương pháp tiếp cận, phương pháp, kỹ thuật giảng dạy và đánh giá.
5. biết triết lý đằng sau quá trình tự học
6. biết sử dụng phương pháp giảng dạy thích hợp theo ngữ cảnh.
7. có mối liên hệ các viện nghiên cứu quốc tế về giáo dục.
8. biết tự thiết kế bài học (giáo trình).
9. biết thiết kế chương trình giảng dạy và kế hoạch lên lớp.
10. biết thiết kế và áp dụng các thủ thuật học tập cho các đối tượng và nhu cầu học tạp khác nhau.
11.biết thực hiện quản lý lớp học tốt.
12.có xác định nhu cầu của sinh viên
13. có
khả năng xác định các vấn đề khi nhập các lớp học khác nhau. (cơ khí học chung với điện)
14. biết xử lý tình huống bất ngờ.
15. biết thúc đẩy quá trình tự học của sinh viên
16.
biết phối hợp các hoạt động nhóm.
17. giúp sinh viên tăng cường khả năng tự đánh giá
18. giúp sinh viên có hứng thú trong quá trình tự học
19. biết và sử dụng và công nghệ
thông tin truyền thông mới
20. biết phát huy giá trị đạo đức
21. biết chấp nhận và tôn trọng sự đa dạng
22.
biết chịu trách nhiệm và công bằng khi đưa ra quyết định
23. biết chấp nhận sai lầm của chính
24. biết thiết kế và sử dụng các công cụ đánh giá
25. biết duy trì khả năng nghiên cứu, thúc đẩy các
nghiên cứu hành động. (action research)
26. biết trình bày và đăng các tài liệu nghiên cứu.
27. biết tham gia vào các hoạt động liên quan đến phát triển chuyên môn của mình.
28. biết tham gia vào các dự án với các đồng nghiệp.
29. tham gia các khóa bồi dưỡng chuyên môn
30. biết đánh giá năng lực giảng dạy của bản thân.

Nói tóm lại, những năng lực trên là cần thiết và sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vốn vẫn là mục tiêu hướng tới của mọi cơ sở giáo dục. Hay thì hay đấy, thiết yếu thì thiết yếu đấy nhưng với đời sống xã hội lạm phát 2 con số, lương của một PhD candidate như mình 613.000 VND thì ta nên phải làm gì? Phải làm gì?

Một câu hỏi lớn không lời đáp .... ???????????


Monday, January 31, 2011

Thai University - the world sexiest ;)

Would rather not say, but in fact can't help keeping my eyes when they are passing by.
Recently, the Japanese media announced that Thai university uniforms, with its short-sleeve white blouse and short black skirt, as the world’s sexiest student uniform, based on an online survey. The news has caused people in the educational sphere to strike a note of disapproval one after another.


Sunday, January 9, 2011

Rodney Carrington - Show Them to Me

Một bài hát rất hay, rất hài hước. Ẩn chứa sau những ca từ có vẻ như rất sexy là những suy nghĩ nhân văn. Hope you will have some fun






Friday, December 31, 2010

University lecturers to be researchers. The conflict of black bread and philosophy

Adapted from "Nghiên cứu khoa học và ông Thầy đại học" @ Tuoitre online

Ở đâu những người thầy - nhà nghiên cứu?

Cải cách nền giáo dục ngoài những chủ trương to lớn đã được bàn luận nhiều, người ta cho rằng đại học phải trở thành nơi nghiên cứu; giã từ vai thợ giảng, người thầy phải là nhà nghiên cứu. Từ góc nhìn hạn hẹp của người làm nghề dạy học, theo tôi, có thể thảo luận những kinh nghiệm dưới đây giúp giảng viên đại học nghiên cứu khoa học được trong bối cảnh hiện nay:

Thứ nhất, tận dụng hiệu quả ngân sách mà nhà trường cho phép. Hằng năm trường đại học nào cũng có những khoản ngân sách, dù có thể còn khiêm tốn, cho hoạt động nghiên cứu. Một đề tài, tùy theo cấp quản lý, có thể được cấp từ vài chục triệu đến hàng trăm triệu đồng. Học vị và chức tước càng cao thì cơ may nhận được dự án hoặc chuyên đề nghiên cứu càng lớn.

Với thầy cô giáo trẻ tuổi, nên tận dụng mọi cơ hội đăng ký những đề tài dù là nhỏ nhất, kinh phí nên chắt chiu đủ để hoàn thành một bài báo cho tới tham gia cộng tác trong những đề tài lớn. Qua năm tháng, giảng viên sẽ tích lũy được kinh nghiệm chọn lĩnh vực nghiên cứu, cách thức tổ chức nghiên cứu, cách tận dụng kinh phí eo hẹp để “thâm canh tăng vụ” tận thu từng kết quả nghiên cứu, tạo nên thế mạnh cá nhân.

Thứ hai, chấp nhận và vượt qua những khó chịu về thủ tục hành chính trong nghiên cứu. Có được một chút kinh phí đã khó, tiêu được nguồn tiền ấy một cách hợp thức đôi khi càng khó hơn. Đôi khi người ta buộc phải kê khai những khoản chi tương đối lắt léo để tuân thủ đúng các quy định khá cứng nhắc về quản lý ngân sách nghiên cứu. Tiểu xảo này thường vướng vì tự ái của người làm nghề chữ nghĩa.

Thông thường, nhân viên các phòng kế toán và tài vụ có nghề hơn các giáo sư trong việc nghĩ ra cách chi tiêu tuân thủ quy định về tài chính nên có thể dự liệu một phần trong kinh phí của đề tài để ủy quyền cho chính các nhân viên này, đưa việc giải ngân và quyết toán trở thành một phần riêng, có người chuyên nghiệp lo, người thầy chỉ lo việc tổ chức nghiên cứu.

Thứ ba, tận dụng cơ hội tham gia các hội thảo chuyên ngành. Một tuần đọc sách không bằng một giờ gặp gỡ và nghe đồng nghiệp chia sẻ thông tin. Dù đã có lời chê rằng trong giới học giả đã xuất hiện những giáo sư phòng khách, làm nghề đi dự hội thảo, song với giảng viên và người nghiên cứu trẻ, hội thảo là một cơ hội thú vị để thu thập kiến thức, thông tin, làm quen và thiết lập các mối quan hệ cần cho việc nghiên cứu. Nếu có cơ hội, nên tham gia hội thảo một cách chủ động với những câu hỏi được chuẩn bị trước.

Thứ tư, đừng xấu hổ, hãy học ngay học trò của mình. Người ta đang chê bai ầm ĩ chất lượng của hệ đại học tại chức, song nếu khéo léo tổ chức, người thầy có thể học được rất nhiều từ những học sinh tại chức với kho kinh nghiệm thực tiễn đa dạng của họ. Nếu thiết kế chương trình giảng gồm những phần giới thiệu của giảng viên và những chùm đề tài tự nghiên cứu từ thực tiễn của học viên, trong vai một người nghe tích cực, điều đáng ngạc nhiên là người thầy có thể học được rất nhiều từ trò của mình. Điều này đúng với mọi đối tượng học viên, kể cả những người trẻ tuổi vừa mới bước vào trường đại học. Những góc nhìn của họ về cuộc đời và đạo làm người đôi khi như những gáo nước lạnh làm tỉnh giấc những thế hệ cha anh vốn bắt đầu quen sống theo những quán tính dần trở thành cũ và thân thuộc của mình.

Thứ năm, xuất bản hay là chết. Câu này tôi vay từ giới nghiên cứu ở Mỹ, khi họ thường đùa “publish or perish”. Bắt đầu bởi những chủ đề nhỏ và chuyên sâu, những thầy cô giáo trẻ tuổi phải tập có tiếng nói trên văn đàn khoa học, dù từ những góc nhìn thuở ban đầu còn hạn hẹp và chưa thể nhuần nhuyễn. Phải bắt đầu công bố nghiên cứu của mình, dù bằng cách đọc tham luận tại hội thảo nhỏ, hay gửi đăng tác phẩm trong tạp chí của nhà trường, của hiệp hội chuyên ngành cho tới các tạp chí có phạm vi rộng hơn. Trước khi gửi bài nghiên cứu để công bố nên đọc kỹ các thể lệ gửi bài, nếu có thể nên tham khảo ý kiến của ban biên tập. Đừng nản chí, sau khi có bài nghiên cứu chắc chắn sẽ có những diễn đàn phù hợp để công bố ý tưởng của người nghiên cứu. Cuộc đời này ồn ào, song đều có những không gian và giây phút tĩnh lặng lắng nghe dành cho tất cả.

Thứ sáu, hãy là chính bạn. Đạo đức nghiên cứu đang là một chủ đề phiền toái hiện nay khi đạo văn là một thói xấu chưa bị lên án đủ mạnh. Người thầy tựa như nghệ sĩ, tác phẩm của họ là khuyến khích sự tự học của những cá thể người học vốn hàng triệu người chẳng ai giống ai. Tác phẩm nghiên cứu phải thể hiện công sức lao động, danh dự và nhân cách hết sức cá biệt, riêng tư của người nghiên cứu. Ý thức được điều ấy, người thầy tự tạo cho mình những chuẩn mực, những thước đo, những thang giá trị và tiến hành nghiên cứu với tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm cực kỳ cao. Theo tôi, đó cũng nên là một phần của chủ trương tự chủ đại học mà nền giáo dục của nước ta đang hướng tới.

“Không có bánh mì, không có triết học”

Dường như vĩ nhân Karl Marx từng nói “không có bánh mì, không có triết học”. Để giữ thăng bằng trong cuộc đời thời hiện đại, chung sống với áp lực của triền miên các giờ giảng và nỗi lo đến lớp với kiến thức ngày càng cũ dần, nghiên cứu trở thành một thách thức liên tục; triết học thành điều kiện để duy trì bánh mì đối với người làm nghề giáo. Thầy dám nghĩ thì trò mới ưa khám phá, như mầm cây nhích dần từng li thoát khỏi vỏ hạt. Hi vọng thời của những đại học độc lập nghiên cứu mau đến với dân tộc chúng ta.