Monday, December 9, 2013
Tuesday, June 18, 2013
Những điều ngay cả Harvard cũng không dạy bạn
Tại Hoa Kỳ và một số nước trên thế giới hàng ngày họ đều có những cuộc tổ chức thăm dò và rèn luyện những kỹ năng mềm cho sinh viên. Để cho sinh viên tiếp thu tốt, họ thường lấy ví dụ rất sinh động và cụ thể như là những câu chuyện hàng ngày mà họ vấp ngã, đồng thời cũng không quên một số ví dụ từ những câu chuyện ý nghĩa. Trong lớp học MBA mà tôi từng học, các ông thầy có thể lấy ví dụ từ bất kỳ trường hợp nào. Có một vị thầy giáo làm cho tôi nhớ nhất về việc ông ta đã truyền cảm hứng cho chúng tôi bằng câu chuyện “văn hóa của bọn cướp”, nó được thể hiện một bằng một câu chuyện hư cấu rất hài nhưng mang tính triết lý, đến cả trường đại học Harvard cũng không dạy bạn. Tôi muốn chia sẻ câu chuyện như sau:
Friday, September 21, 2012
Saturday, September 1, 2012
Sống một kiếp BÌNH AN là được
Tiền ít tiền nhiều, đủ ăn là được
Người xấu người đẹp, dễ coi là được
Người già người trẻ, miễn khỏe là được
Nhà giàu nhà nghèo, hòa thuận là được
Ông xã về trễ, miễn về là được.
Bà xã càu nhàu, thương mình là được.
Khi con còn nhỏ, dạy dỗ thật nghiêm
Tiến sỹ cũng được, bán rau cũng được.
Sau khi trưởng thành, ngoan ngoãn là được.
Nhà to nhà nhỏ, có chỗ ở là được.
Hàng hiệu hay không, mặc được là được.
Tất cả phiền não, biết xả là được.
Kiên trì cố chấp, biết bỏ buông là được
Sống một kiếp người, bình an là được.
Không phải có tiền, muốn gì cũng được.
Tâm tốt việc tốt, số mệnh đổi được
Ai đúng ai sai, Trời biết là được.
Tu phúc tu thân, kiếp sau cũng được.
Thiên địa vạn vật, tùy duyên là được
Có rất nhiều việc, nhìn xa sẽ được
Mọi người đều tốt, ngày ngày đều được
Anh tốt tôi tốt, thế giới sẽ được
Nói tóm lại, tri thức là quan trọng nhất.
Nói nhiều như vậy, hiểu được là được,
Vẫn còn chưa hiểu, xem lại là được
Monday, July 16, 2012
Người Việt và ý thức công dân, ý thức xã hội
Sunday, January 29, 2012
Hạt giống tâm hồn (Full-Mediafire)
Những cuốn sách này như một món quà tặng của tâm hồn, nó tiếp thêm cho bạn niềm tin, lòng dũng cảm để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Tôi mong muốn bạn luôn thành công trên chính con đường bạn đã chọn.
Tập 1: Hạt giống tâm hồn cho lòng dũng cảm và tình yêu cuộc sống T1
Tập 2: Hạt giống tâm hồn cho lòng dũng cảm và tình yêu cuộc sống T2
Tập 3: Từ những điều bình dị
Link down: http://www.mediafire.com/download.php?qaj2h79vjjjq299
Tập 4: Từ những điều bình dị
Link down: http://www.mediafire.com/download.php?nxtq2kfn18iit77
Tập 5: Ý nghĩa cuộc sống
Link down: http://www.mediafire.com/download.php?5596dsa1a1pwnt8
Tập 6: Ý nghĩa cuộc sống
Link down: http://www.mediafire.com/download.php?2asf8huo2qasqn0
Tập 7: Những câu chuyện cuộc sống
Link down: http://www.mediafire.com/download.php?z5vwlnrr1tog39l
Tập 8: Những câ chuyện cuộc sống
Link down: http://www.mediafire.com/download.php?o3c97n0iv1w3in1
Tập 9: Vượt qua thử thách
Link down: http://www.mediafire.com/download.php?4356k2dzc97rp3n
Tập 10: Theo dòng thời gian
Link down: http://www.mediafire.com/download.php?rlq3yahwakbblks
Tập 11: Những trải nghiệm cuộc sống
Nguồn: Internet
Wednesday, August 10, 2011
Teaching the Language is Teaching the culture
Chúng ta co ba nhận định chính: một, ngôn ngữ thực chất là văn hóa; hai, nói hoặc viết ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ của mình là một thao tác liên văn hóa; và ba, dạy và học ngôn ngữ thứ hai hoặc song ngữ thực chất là dạy và học văn hóa.
Vấn đề: Dạy văn hóa qua ngôn ngữ là dạy gì?
Đó không phải là câu hỏi dễ trả lời. Văn hóa có một nội hàm rất rộng, không thể dạy hết được, ngay trong những môn thuộc chuyên ngành văn hóa học. Bởi vậy, chúng ta chỉ giới hạn trong văn hóa giao tiếp. Trong văn hóa giao tiếp, Catherine Kerbrat-Orecchioni đề nghị tập trung vào năm trục chính: một, tầm quan trọng đặt trên việc phát ngôn; hai, cách tiếp cận với các quan hệ liên cá nhân; ba, cách hiểu về phép lịch sự; bốn, mức độ nghi thức hóa; và năm, cách bày tỏ cảm xúc và cảm giác (1). Tôi đề nghị thêm phần ngôn ngữ thân thể như một trục thứ sáu để phù hợp với tầm quan trọng của loại hình ngôn ngữ này trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam.
Riêng trong bài này, xin đề cập đến khía cạnh thứ nhất của văn hóa giao tiếp: Mức độ hoạt ngôn (levels of verbosity).
Trong một số nền văn hóa, người ta đề cao và khuyến khích việc phát ngôn hơn các văn hóa khác. Ví dụ người Palians (thuộc miền nam Ấn Độ) thường được xem là nói rất ít (low verbosity) trong khi người Pháp được xem là nói nhiều (high verbosity); người nói tiếng Anh được xếp vào hạng trung bình (2). Còn người Việt Nam thì sao? Thú thực, tôi không biết. Cho đến bây giờ vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về mức độ hoạt ngôn của người Việt cả. Có điều, cần phân biệt hai môi trường hành ngôn khác nhau. Thứ nhất, ở chỗ riêng tư, trong các câu chuyện phiếm, có lẽ người Việt cũng nói nhiều không thua bất cứ ai cả. Thứ hai, ở nơi công cộng, trong các cuộc hội thảo, người Việt Nam phần lớn, nếu không nói là tuyệt đại đa số, dè dặt và trầm lặng hẳn. Cứ nhìn vào giờ thảo luận trong lớp học của người Việt Nam và của người Tây phương thì thấy ngay. Trong khi người Tây phương, nói chung, sôi nổi bao nhiêu thì người Việt Nam thường lặng lẽ bấy nhiêu. Có lý do văn hóa nào cho hiện tượng nói ít nơi công cộng như vậy không? Tôi nghĩ là có. Ít nhất có ba nguyên nhân chính:
Một, người Việt Nam trọng lễ. Ở nơi công cộng, người ta thường nhường người lớn tuổi và nhiều quyền thế hơn. Ý niệm về bình đẳng trong tranh luận chưa bén rễ sâu trong văn hóa Việt Nam. Phần lớn đều theo văn hóa truyền thống.
Hai, vấn đề thể diện còn ảnh hưởng nặng nề ở Việt Nam và là một trong những trung tâm của văn hóa giao tiếp của người Việt cũng như của người Hoa. Trước đám đông, một mặt, người ta muốn lên tiếng để khẳng định vị thế của mình; nhưng mặt khác, lại sợ nói sai, nói dở hay nói hớ để, hoặc là bị người khác phản đối hoặc là bị người khác cười thầm: trong cả hai trường hợp, người ta đều sợ bị "mất mặt".
Ba, có lẽ do ảnh hưởng của cả một lịch sử dài dằng dặc bị áp bức, người Việt Nam thường sợ việc mở miệng, đặc biệt trước đám đông. Ca dao và tục ngữ Việt Nam cung cấp cả một kho tàng triết lý về việc nói năng. Chẳng hạn, xem ngôn ngữ như một thứ quyền lực: Miệng nhà quan có gan có thép, có ảnh hưởng trực tiếp đến số phận con người: Lời nói đọi máu. Do đó, càng ít nói bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu: Lời năng nói năng lỗi. Trước khi nói nên suy nghĩ chín chắn: Có miệng thì cắp, có nắp thì đậy; kẻ thất thế càng nên nói ít: Khó nhịn miệng, bồ côi nhịn lời. Nếu phải nói, nên nói, đừng viết: Lời nói gió bay, bút sa gà chết. Nếu viết, nên chọn hình thức phù du nhất: Khôn văn tế dại văn bia. Không nên nói thật: Nói thật mất lòng. Và chỉ nên nói khéo: Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau, v.v...
Như vậy, trong văn hóa giao tiếp, ngay cả việc ít nói hay im lặng cũng là những sự lựa chọn mang tính văn hóa: chúng cần được diễn dịch trong giao tiếp và cần được giảng dạy trong lớp học.
***
Chú thích:
1. Xem bài “A conceptual framework to help teachers identify where culture is located in language use” của Chantal Crozet in trong cuốn Teaching Invisible Culture, Classroom Practice and Theory do Joseph Lo Bianco và Chantal Crozet biên tập, Language Australia Ltd. xuất bản tại Melbourne, 2003, tr. 39-40.
2. Joseph Lo Bianco & Chantal Crozet (biên tập) (2003), sđd. tr. 41.
Source: Nguyen Hung Quoc blog














