"Trí tuệ giàu lên nhờ cái nó nhận được,con tim giàu lên nhờ cái nó cho đi" - Victor Hugo.You can make a living by what you get, but you can make a life by what you give- Winston Churchill

Thursday, April 25, 2013

MỘT SỐ LUẬN ĐIỂM ÁP DỤNG TRONG NGHIÊN CÚU KHOA HỌC XÃ HỘI


Xã hội khao khát vị Thần Chân lý có mặt để mọi người sống tốt hơn. Nhà thực chứng tin là có một vị Thần Chân lý, mọi người hãy đi tìm. Nhà diễn dịch phản bác lại rằng, mỗi người đều nhìn thấy một vị Thần Chân lý, vậy hãy đi tìm vị thần được nhiều ngươì nhìn thấy, đó chính là vị Thần Chân lý của xã hội. Mặc kệ họ cãi nhau, nhà phê phán lại khăng khăng cho rằng, vị Thần Chân lý của xã hội chưa chắc đã là thật, còn nhiều vị khác mới đích thị là Thần Chân lý. Biết đâu Thần Chân lý là vị mà chỉ có một hay vài người thấy thì sao? Và nhà phê phán lật ngửa Thần Chân lý lên để bới lông tìm vết… Nhưng bằng cách nào đi chăng nữa, một giọt chân lý được góp vào đại dương kiến thức chính là thành quả đích thực của nhà nghiên cứu.
Kiến thức mà nhân loại có được là thành quả của nghiên cứu. Sự khác biệt Đông – Tây là do xuất phát điểm khác nhau trong quan niệm về nhận thức. Trên nền tảng của triết lý nghiên cứu nổi bật lên ba hệ nhận thức: Khách quan (Objectivism), Tạo dựng (Constructionism) và Chủ quan (Subjectivism). Ba hệ nhận thức này tuy mâu thuẫn nhưng lại bổ sung cho nhau. Trên cơ sở mỗi hệ nhận thức, các luận điểm (Theoretical perspectives) được xây dựng. Từ luận điểm lại hình thành nên các phương pháp luận nghiên cứu (Research Methodologies) và tiếp theo là hình thành nên các phương pháp nghiên cứu (Research Methods).
1. Nghiên cứu khoa học
Đối với nhiều người, nghiên cứu là một khái niệm rõ ràng. Đó là một quá trình có tính chất hệ thống nhằm để quan sát, giải thích hoặc khám phá nhằm tạo dựng nên sự thật, chân lý hoặc đưa ra các kết luận. Nghiên cứu trong khoa học xã hội là áp dụng quá trình trên nhằm để hiểu về quan hệ và ứng xử của con người trong xã hội. Nghiên cứu tạo ra kiến thức.
Ngược lại với khái niệm rõ ràng về nghiên cứu, việc triển khai một quá trình nghiên cứu hoặc cách tiếp cận trong nghiên cứu lại có thể là một vấn đề gây tranh cãi. Trong cùng một trường hợp hoặc một hiện tượng được nghiên cứu, không chỉ có nhiều quá trình và cách tiếp cận khác nhau mà ngay cả các kết luận đưa ra cũng có thể rất khác tuỳ vào phương pháp tiếp cận và cách thức tiến hành nghiên cứu.
2. Thực chứng luận (Positivism)
Những người tin vào thực chứng luận cho rằng nghiên cứu trong khoa học xã hội có thể áp dụng tương tự như trong khoa học tự nhiên. Với mục đích tìm kiếm những quy luật tổng quát, những sự thật hiển nhiên và những lý thuyết khách quan (value excluded theories), các nghiên cứu thực chứng khởi xướng bởi Comte (1798 – 1857) và phát triển bởi những người kế thừa ông đã có thời giữ vị trí thống trị trong khoa học xã hội. Điều này có thể hiểu được bởi vì triết học và sau đó là khoa học tự nhiên phát triển từ rất sớm và có vai trò độc tôn trong thời kỳ đầu của lịch sử nghiên cứu khoa học. Khi chuyển sang nghiên cứu xã hội, một số nhà khoa học tự nhiên đã vận dụng luôn phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học tự nhiên vào khoa học xã hội và có thể nói đã có những đóng góp nền tảng cho khoa học xã hội.
Những nhà thực chứng tin rằng thế giới loài người, tương tự như thế giới tự nhiên, hoạt động theo trật tự và có một sự thật khách quan tồn tại trong nó để có thể được khám phá thông qua việc quan sát, làm thực nghiệm hoặc so sánh. Thực chứng nguyên thủy tìm kiếm sự tuyệt đối, sự tin chắc và trật tự logic (absoluteness, certainty and order). Nhận thức luận khách quan (Objectivist Epistemology) bao trùm thực chứng luận, do đó giá trị nền tảng của các nghiên cứu thực chứng là tính khách quan.
Về sau, thực chứng luận chia làm nhiều hệ phái. Ví dụ như thực chứng Logic (Logical positivism) bổ sung thêm nguyên tắc kiểm chứng (verification principle). Theo hệ phái này, kiến thức chỉ có nghĩa sau khi đã được kiểm chứng bằng kinh nghiệm (hoặc dữ kiện có nghĩa – sense data, Crotty, 1998) và những khái niệm có thể phân biệt được. Các lý luận siêu hình, đạo lý, mỹ học và tôn giáo không chứa đựng các dữ kiện nhận biết được và vì thế, bị loại bỏ khỏi triết học thuần túy. (Crotty, 1998)
Ngược lại, hậu thực chứng luận (Postpositivism) lại không thừa nhận sự tuyệt đối và sự tin chắc. Karl Popper (1902-1994), người sáng lập ra nguyên lý kiểm định sai (Principle of Falsification) đưa ra một cách nhìn mới về thế giới loài người theo đó không thể chứng minh đúng hoặc làm rõ mọi thứ (Verifiable) nhưng có thể chứng minh sai (Falsifiable). Với ông, nghiên cứu khoa học là một tiến trình (on going process) kiểm định lại tính đúng đắn, đơn giản chỉ vì các nhà khoa học sẽ không bao giờ biết được chắc chắn rằng lý thuyết của họ có thể đứng vững trong tương lai hay không. Vì thế, lý thuyết phải có tính mở để được kiểm định. Sự không khẳng định (tentativeness), tính nhất thời (provisionality), tính xác suất (probabilistically) thay thế cho sự tin chắc. Rốt cuộc tính khách quan chỉ còn là mục tiêu lý tưởng mà thôi. Một thí dụ minh họa là việc đo nhiệt độ sôi của nước. Dù nhà nghiên cứu có đo bao nhiêu lần đi chăng nữa cũng không hoàn toàn khẳng định được nước sôi ở 1000C. Tuy nhiên chỉ cần một lần quan sát được nước sôi ở nhiệt độ thấp hơn (hoặc cao hơn) trong điều kiện áp suất thay đổi, là đã có thể bác bỏ kết luận nước sôi ở 1000C chung chung, mà phải thêm vào điều kiện áp suất. Nguyên lý của Popper không loại trừ thực chứng nguyên thuỷ, mà chỉ đưa ra cách tiếp cận bổ sung để tiệm cận chân lý.
Nối tiếp và có phần đi xa hơn K. Popper là P. Feyerabend (1924 -1994) khi cho rằng khoa học cần phải tiếp nhận hệ thống các khái niệm bên ngoài khoa học, từ tôn giáo chẳng hạn (Crotty, 1998). Bằng cách nghi ngờ đến cùng cái gọi là sự thật tuyệt đối, Ông có vẻ như đặt chân vào ranh giới giữa nhận thức luận tạo dựng (Constructivism Epistemology) và nhận thức luận khách quan. Khoa học (xã hội) không còn ý nghĩa hợp lý và tiên đoán được, mà ẩn chứa các yếu tố lịch sử, có thể thay đổi và không tuyệt đối.
Vậy thì những phương pháp luận nghiên cứu (Research methodologies) nào bắt nguồn từ thực chứng luận áp dụng được trong khoa học xã hội? Đó là các phương pháp quan sát (Observation), nghiên cứu thực nghiệm (Experimental Research), nghiên cứu bằng khảo sát (Survey Research). Thật khó biết được có bao nhiêu lý thuyết đã được xây dựng bởi thực chứng luận, chỉ tính riêng nghiên cứu bằng khảo sát đã được ghi nhận là phương pháp nghiên cứu quan trọng nhất trong khoa học xã hội ứng dụng (W. Trochim, 2002).
Tuy nhiên, cũng có những hạn chế khi áp dụng thực chứng luận vào khoa học xã hội. Trước hết, các biến cố xã hội có thể chỉ xảy ra duy nhất một lần và không bao giờ lặp lại hoặc được mô phỏng chính xác, do đó quan sát trực tiếp là điều không tưởng cho mọi nhà khoa học (Ví dụ: đối với hiện tượng suy thoái kinh tế thập niên 1930, các nhà kinh tế học hiện nay chỉ có thể nghiên cứu dựa trên những tài liệu lưu trữ còn sót lại được ghi nhận một cách khoa học cũng như không khoa học, chính xác cũng như không chính xác). Thứ hai, các hiện tượng xã hội không thể được “đóng khung” hoặc cách ly ra khỏi xã hội để quan sát. Ví dụ như một đứa trẻ (hay một trường, một lớp học) không thể được dạy dỗ riêng để đo lường khả năng của nó (hay của trường, của lớp) hoặc để đo lường hiệu quả của chương trình dạy. Cuối cùng, những gì mà các nhà khoa học quan sát được chưa chắc đã là sự thật hoặc hiện tượng thật. Xã hội và văn hóa được bện kết bởi những vô số những quan hệ hữu cơ trong khi kinh nghiệm và khả năng của các nhà khoa học thì có giới hạn. Chính vì lẽ đó, ngoài nền móng thực chứng, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội lại phải lần ra những hướng đi mới để xây dựng nên kiến thức.
3. Diễn dịch luận (Interpretivism)
Những nhà nghiên cứu chối bỏ các quan điểm thực chứng có thể tìm thấy diễn dịch luận (interpretivism) là một cách tiếp cận cứu cánh. Ban đầu diễn dịch luận gắn liền với tư tưởng của Max Weber (1864 – 1920), người đã cho rằng trong khoa học về con người (human sciences) chúng ta đề cập đến hiểu biết (Understanding) so với việc giải thích nguyên nhân (Causality Explanations) thường thấy trong khoa học tự nhiên (Crotty, 1998).
Không như kiến thức trong khoa học tự nhiên được xây dựng bởi các nhà nghiên cứu thông qua các phương pháp trực tiếp (Direct methods) (1), kiến thức trong khoa học xã hội được xây dựng không chỉ bởi các nhà khoa học, mà còn bởi nhiều người khác trong xã hội. Hoạt động, ứng xử và những giả định hay tiên đề (assumptions)(2) của con người được xây dựng dựa trên các mối quan hệ tương tác trong xã hội. Các hiện tượng xã hội nổi lên là kết quả của các mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân liên quan. Do đó các cá nhân tự hình thành các cảm nhận, hiểu biết riêng và trên hết là nghĩa hoặc cách hiểu (meaning) riêng về hiện tượng đó. Crotty (1998) đã đúc kết: “Đối với cùng một hiện tượng, rõ ràng là những người khác nhau có thể tạo dựng những cách hiểu riêng khác nhau”.
Những điểm giả định của diễn dịch luận chỉ ra rằng kiến thức được tạo dựng (Constructed) một cách xã hội (socially) từ các cách hiểu của các cá nhân. Luận điểm diễn dịch này đưa đến một tiếp cận nghiên cứu hoàn toàn khác – đó là thu thập các cách hiểu của mỗi người khác nhau. Đây là cách tiếp cận đến từng cá nhân (hay cách tiếp cận cá nhân hoá – individualising method) với trọng tâm là quá trình thu thập và diễn dịch các cách hiểu của các cá nhân. Vì lẽ đó, nhận thức luận tạo dựng (Constructionism) bao trùm hệ thức này.
Mỗi cá nhân lại có một hoàn cảnh và môi trường sống riêng trực tiếp tác động lên cách hiểu của cá nhân đó. Do vậy, văn hóa và lịch sử đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và diễn dịch các cách hiểu. Hệ phái tương tác tượng trưng (Symbolic Interactionism) đòi hỏi phải xem xét các hiện tượng xã hội trong bối cảnh văn hóa và lịch sử của nó. Vì thế nhà nghiên cứu phải tự đặt mình vào vị trí được quan sát (tức các đối tượng được nghiên cứu) để thấy được cách người khác nhìn nhận thế giới hầu giúp cho việc phản ảnh trung thực cách hiểu của người ta.
Có khá nhiều phương pháp luận nghiên cứu gắn với tương tác tượng trưng. Ví dụ như lý thuyết cơ sở (Grounded Theory) thực hiện nghiên cứu nhằm đưa ra lý thuyết trên cơ sở phân tích và quy nạp các dữ liệu định tính (qualitative) một cách có hệ thống. Dữ liệu định tính là các cách hiểu quan sát được. Nghiên cứu khảo sát (survey research) trong thực chứng cũng được thực hiện tương tự nhưng trên cả dữ liệu định tính và định lượng.
Ngược lại, hiện tượng luận (Phenomenology) nhìn ra những giới hạn của văn hóa. Bản thân nhà nghiên cứu cũng bị bao trùm bởi văn hóa và bị gắn kết chặt vào các tiền giả định (Presuppositions) hay cảm nhận. Do đó, hiện tượng luận đòi hỏi nhà nghiên cứu phải nhìn sự vật hiện tượng với càng ít (hoặc loại bỏ hẳn) các tiền giả định càng tốt. Hai đặc điểm được nhấn mạnh là tính khách quan và tính phê phán. Hiện tượng luận nhắc nhở các nhà nghiên cứu không được áp đặt các thành kiến và các tiền giả định lên dữ kiện, dữ kiện phải không bị làm méo mó. Nhà nghiên cứu phải tự xỏ chân mình vào giày của người khác, hay chui vào chăn người khác để đánh giá tình hình rận rệp cho đúng với cảm nhận của chủ nhân.
Là một hệ phái khác của diễn dịch luận, bình giảng luận (Hermeneutic) trước tiên là cách đọc để có thể hiểu một văn bản. Sau đó bình giảng luận phát triển một số phương pháp để không chỉ hiểu mà còn có thể diễn giải văn bản. Bình giảng luận có một số giả định, đó là nghĩa của văn bản không chỉ giới hạn trong nghĩa câu chữ thể hiện trong văn bản. Có một biên giới rộng hơn nhiều để có thể mở rộng nghĩa của văn bản, đó là bối cảnh văn hóa, xã hội của tác giả. Hiểu nội dung một văn bản không chỉ là nắm bắt nghĩa bề mặt (hiểu bởi câu chữ đơn thuần) mà phải đi sâu vào nắm bắt ý nghĩa và ý đồ của tác giả ẩn sâu trong đó mà ngay cả tác giả cũng không thể diễn đạt hết bằng câu chữ của mình – ý tại ngôn ngoại. Qua quá trình bình giảng, có thể hình thành nên nghĩa hay cách hiểu mà chưa từng được biết đến trước đó. Không chỉ đọc tác phẩm, người ta cần phải “đọc” cả tác giả để hiểu tác phẩm.
Bình giảng luận chỉ ra cách tiếp cận tới nghĩa toàn vẹn của văn bản trong đó phép biện chứng (Dialectic method) là một cách. Biện chứng nhằm vào việc khám phá nghĩa của văn bản dựa trên việc phân tích về mặt cú pháp. Có một sự độc lập giữa nghĩa của từng đoạn văn và nghĩa của cả văn bản.
Như vậy, nhà nghiên cứu phải chú ý đến “Vòng Bình giảng – Hermeneutic Circle”. Vòng bình giảng bắt đầu khi nhà nghiên cứu đặt mình vào bối cảnh lịch sử xã hội của tác giả để hiểu được toàn bộ nghĩa của văn bản. Sau đó nhà nghiên cứu tiếp tục vận dụng kiến thức và bối cảnh lịch sử xã hội của mình để chuyển ngữ. Vòng bình giảng cho phép tái hiện lại một cách đầy đủ nguyên nghĩa của văn bản trong bối cảnh mới.
Rõ ràng điều này có ý nghĩa đối với nghiên cứu. Bình giảng luận là quá trình để hiểu thấu đáo. Trong khoa học xã hội, nhà nghiên cứu không thể tự mình đo lường và hiểu hoàn chỉnh một hiện tượng xã hội, đơn giản vì có quá nhiều thứ hàm chứa trong nó. Vì thế, việc xem xét lại các nghiên cứu khác, các cách hiểu khác về hiện tượng đó là cần thiết. Tổng quan tư liệu (Literature review) là một bước mô phỏng cách tiếp cận bình giảng luận nhằm giúp cho nhà khoa học nắm bắt được ý nghĩa toàn diện của hiện tượng xã hội. Bước đi này không chỉ làm ngắn lại quá trình nghiên cứu mà còn nhằm đảm bảo tính khách quan và giá trị của nghiên cứu. Và bằng vào quá trình so sánh đối chiếu những phản ảnh khác nhau về hiện tượng xã hội, bằng vào việc trao đổi ý tưởng với những nhà nghiên cứu khác, các kết luận có tính chất đồng thuận mới có thể được đưa ra. Quá trình phản biện trong nghiệm thu các kết quả nghiên cứu cũng là cách tiếp cận này.
Tuy nhiên, bình giảng luận lại phụ thuộc quá nhiều vào bối cảnh lịch sử xã hội mà trong đó những ý kiến, quan điểm chủ đạo chiếm ưu thế. Chính vì thế một hệ thức khác ra đời nhằm giải quyết phần còn khiếm khuyết này.
4. Phê phán luận (Critical Inquiry)
Cách tiếp cận khác chính là phê phán luận. Không như thực chứng luận và diễn lịch luận, phê phán luận không nhằm vào việc giải thích hoặc hiểu thực trạng xã hội theo số đông và quan điểm chủ đạo, mà nhằm vào việc đòi hỏi một luận điểm mới riêng để có thể thay đổi hiện trạng thế giới. Nhận thức luận chủ quan (Subjectivist Epistemology) bao trùm hệ thức này.
Theo đó, xã hội bị che phủ một cách hệ thống bởi thông tin dị dạng. Trong quá trình xây dựng kiến thức, những ý kiến của thiểu số thường đã bị bỏ qua do họ không có cơ hội bày tỏ cách hiểu, cách nghĩ. Mặt khác ý kiến của đa số chưa hẳn đã đúng (nhân tài như lá mùa thu, nên ý kiến của nhân tài có khi bị lấn át bởi đa số bình thường khác). Do đó trong nghiên cứu phải xem xét một cách toàn diện và quan sát trên tất cả các góc độ dù là nhỏ nhất. Bên cạnh đó, luôn phải chú ý phản biện những ý tưởng chủ quan thiên lệch dù đa số nêu ra cũng chưa chắc đúng.
Một phương pháp luận nghiên cứu điển hình cho cách tiếp cận này là nghiên cứu hành động (Action Research). Nghiên cứu hành động tìm kiếm sự thay đổi trong từng đối tượng được nghiên cứu cũng như sự thay đổi hoàn cảnh của đối tượng được nghiên cứu. Phương pháp này đặc biệt hiệu nghiệm trong quản trị nhân sự, nơi đòi hỏi các giải pháp mang tính chất cá nhân và nhóm hơn là các giải pháp tổng thể.
Ngoài ra có thể nói cách tiếp cận theo kiểu khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân và đề ra giải pháp thuộc vào phê phán luận. Như vậy, mục tiêu của các nghiên cứu loại này là nhằm để thay đổi, cải thiện hay hoàn thiện một hiện tượng xã hội cụ thể. Nghiên cứu loại này có tính áp dụng cao. Tuy nhiên, cách tiếp cận này đòi hỏi nhà nghiên cứu phải hiểu và có tầm nhìn bao quát toàn bộ vấn đề trên mọi khía cạnh và theo tiến trình lịch sử của vấn đề, điều mà không nhiều nhà nghiên cứu riêng lẻ có thể thực hiện được. Như vậy, tính chủ quan của cách tiếp cận này có lẽ không phù hợp cho các nhà nghiên cứu còn ít kinh nghiệm và tầm tri thức. Bên cạnh đó, kiến thức cần phải được tạo lập trước khi có thể hoàn thiện hay thay đổi. Kết quả nghiên cứu của loại nghiên cứu này phải có tính mới, tính đột phá và tính sáng tạo đại diện cho cách nhìn hiện tượng xã hội theo hướng hoàn thiện nó, thay đổi nó. Bằng không, những giải pháp đưa ra có thể chỉ là những gợi ý võ đoán đậm tính chủ quan. Không có kết luận thì tốt hơn một kết luận tồi.
5. Một số luận điểm khác
Cũng có những luận điểm khác đang nổi lên như hậu hiện đại luận, (Postmodernism), nữ giới luận (Feminism). Tác động của những luận điểm này dừng lại ở mức trào lưu xã hội. Những lĩnh vực nghiên cứu như bình đẳng giới, xóa đói giảm nghèo có cách tiếp cận này. Tuy nhiên có lẽ còn sớm để có thể tổng kết lại các trào lưu này.
Ngoài ra, có cách phân loại nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng (Qualitative and Quantitative researches) dựa trên dữ kiện nghiên cứu. Nghiên cứu định lượng dựa trên việc phân tích dự kiện dạng số, đặc biệt là mối tương quan giữa các biến số ghi nhận hay đo lường được từ các biến động xã hội. Ví dụ mối tương quan giữa thất nghiệp và tệ nạn xã hội. Bên cạnh đó, nghiên cứu định tính dựa trên dữ kiện không thể diễn tả dưới dạng số. Ví dụ như việc khảo sát các yếu tố tác động đến việc thay đổi tổ chức chẳng hạn, thật khó mà thu thập được dữ kiện dạng số bằng vào việc phỏng vấn các thành viên của tổ chức.
Tuy vậy, với những công cụ tính toán mới, đặc biệt là máy vi tính và phần mềm, dữ kiện dạng số và dữ kiện định tính có thể chuyển đổi qua lại (W. Trochim 2002). Vì thế việc phân biệt giữa hai dạng nghiên cứu này càng trở nên ít có ý nghĩa mà thường được kết hợp trong nghiên cứu khoa học xã hội.
6. Lựa chọn phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu khoa học
Như vậy có nhiều phương pháp tiếp cận nghiên cứu. Làm thế nào để chọn được phương pháp tiếp cận tốt nhất là câu hỏi quan trọng thứ hai của người làm nghiên cứu, sau câu hỏi quan trọng nhất “nghiên cứu cái gì”, tức tìm câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu (research question). Một lĩnh vực nghiên cứu trong khoa học xã hội có thể gần với một nhận thức luận này hơn nhận thức luận khác. Do đó trước tiên nhà nghiên cứu cần quyết định chính xác câu hỏi nghiên cứu, sau đó tham khảo các nghiên cứu cùng loại đã được thực hiện để nhận biết được các phương pháp luận nghiên cứu đã được sử dụng. Cũng không nhất thiết phải nghiên cứu với cùng một phương pháp đã được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực đó. Với việc so sánh và đối chiếu các nghiên cứu đã thực hiện, nhà nghiên cứu có thể tự quyết định đi theo phương pháp đã được áp dụng phổ biến hay chọn một phương pháp mới. Cả hai cách đều có thể hé mở những kiến thức mới và bổ ích.
Kết luận
Xã hội khao khát vị Thần Chân lý có mặt để mọi người sống tốt hơn. Nhà thực chứng tin là có một vị Thần Chân lý, mọi người hãy đi tìm. Nhà diễn dịch phản bác lại rằng, mỗi người đều nhìn thấy một vị Thần Chân lý, vậy hãy đi tìm vị thần được nhiều ngươì nhìn thấy, đó chính là vị Thần Chân lý của xã hội.
Mặc kệ họ cãi nhau, nhà phê phán lại khăng khăng cho rằng, vị Thần Chân lý của xã hội chưa chắc đã là thật, còn nhiều vị khác mới đích thị là Thần Chân lý. Biết đâu Thần Chân lý là vị mà chỉ có một hay vài người thấy thì sao? Và nhà phê phán lật ngửa Thần Chân lý lên để bới lông tìm vết…
Nhưng bằng cách nào đi chăng nữa, một giọt chân lý được góp vào đại dương kiến thức chính là thành quả đích thực của nhà nghiên cứu ª
Chú thích:
(1) Direct methods: Nhà khoa học, bằng quan sát và thực nghiệm, tự nghiên cứu và khám phá ra các quy luật. Ví dụ: Luật vạn vật hấp dẫn của Newton (1642–1727) là do riêng ông khám phá ra, không phải đúc kết lại từ những người đi trước. 
(2) Assumptions: các giả định hay tiên đề. Ví dụ Khổng tử giả định rằng vua là trời con – thiên tử, hay Euclid giả định rằng qua hai điểm chỉ có thể kẻ được một đường thẳng mà thôi. Từ các giả định, hệ thống lý thuyết – tức các quy luật (tự nhiên) và quy ước (xã hội)- được xây dựng, ví dụ như Đạo Khổng, Hình học phẳng. Ví dụ về quy ước: vua muốn định đoạt thế giới thế nào cũng được – quân xử thần tử. Các giả định sai có thể dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống lý thuyết phái sinh cũng như các trật tự xã hội được duy trì theo hệ thống lý thuyết đó 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Barlett, D. & Payne, S. (1997). ‘Grounded Theory – Its basis, rationale and procedures’. in Understanding Social Research: Perspectives on Methodology and Practice. McKenzie, G., Powell, J. & Usher, R. (eds). London: Falmer Press. (ch 13, pp 173-195)   2. Cherry, N. (1999a). ‘The status of action research as a research methodology’ in Action Research: A Pathway to Action, Knowledge and Learning. Melbourne: RMIT University Press. (ch 4, pp 53-64)
3. Cherry, N. (1999b). ‘Sustaining ‘critical subjectivity’ in reflective learning and action research’. in Action Research: A Pathway to Action, Knowledge and Learning. Melbourne: RMIT University Press. (ch 6, pp77-92)
4. Crotty, M. (1998). The Foundations of Social Research: Meaning and perspective in the research process. Allen & Unwin: St Leonards, NSW ISBN 1 86448 604 X
5. Kerlinger, F. (1986). ‘Science and the scientific approach’ in Foundations of Behavioural Research. 3rd ed. New York: Holt, Reinhart, and Winston. ch 1, pp 3-1
6. Lam, Nguyễn Hữu (2003): Hệ thức thực chứng trong khoa học xã hội. Tạp chí Phát triển Kinh tế, Đại học Kinh tế TPHCM, số 151 tháng 5, 2003, trang 39-40
7. Lam, Nguyễn Hữu (2003): Hệ thức diễn dịch, tạo dựng trong khoa học xã hội. Tạp chí Phát triển Kinh tế, Đại học Kinh tế TPHCM, số 154 tháng 8, 2003, trang 39-40
8. Sharkey, P. (2000). ‘Hermeneutic Phenomenology’ in Phenomenology. Robyn Barnacle eds Melbourne: RMIT University Press. (ch 2, pp 16- 37) 2. Usher, Robin: Understanding Educational Research, Routlege: London. Ch2, pp 9-32
9. Trochim. William M. (1999). The research methods knowledge base, 2nd edition
http://trochim.human.cornell.edu.
10. Usher, P. (1997) ‘Challenging the power of rationality’. in Understanding Social Research: Perspectives on Methodology and Practice. McKenzie, G., Powell, J. & Usher, R. (eds). London: Falmer Press. (ch 4, pp 42- 55)
11. Usher, Robin, ‘A Critique of the Neglected Epistemological Assumptions of Educational Research’, in Understanding Educational Research. Edited by David Scott and Robin Usher. Routledge: London. Ch 2, pp.9-32.
12. Y. Wadsworth, 1997: Ch 2: What is social research, in Do it yourself social research
SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 171. THÁNG 1/2005

Monday, January 14, 2013

TỬ VI KỶ MÙI 35 TUỔI ÂM NAM NĂM QUÝ TỴ 2013


Sanh từ 28/1/1979 đến 15/2/1980
  • Tướng tinh: Con Rái Cá – Con dòng Xích Đế, cô quạnh
  • Mạng: Thiên thượng Hỏa
  • Sao: Thái Âm: may mắn, danh lộc tốt
  • Hạn: Diêm vương: bệnh đường máu huyết
  • Vận niên: Hẩu thực quả (Khỉ ăn trái) tốt
  • Thiên can: Kỷ gặp Quý: khắc xuất thắng lợi
  • Địa chi: Mùi gặp Tỵ: Tam tai, xấu
  • Xuất hành: ngày mồng một Tết
    • Từ 7h sáng đến 11h sáng
    • Đi về hướng Nam để đón Tài Thần
  • Màu sắc: Hạp: đỏ, xanh. Kỵ: đen , vàng
  • Tổng quát:

    Quý anh có Can Chi đều thuộc Thổ, “Lưỡng Thổ thành Sơn”, sự nghiệp do tích lũy mà thành, có tay tạo nghiệp, đất điền. Nếu sanh thuận ban ngày, là người có quý tướng, công danh, gia đạo dễ nên, hưởng nhiều phúc lộc.
    Nghịch sanh vào ban đêm, vất vả tha phương, nhưng cũng không nghèo khổ vì được nhiều người quý mến, giúp đỡ.
    Bản chất hiền lành, chính trực, trọng chữ tín, được nhiều người tin cậy, hợp tác. Tuy có nhiều cố gắng, nhưng thiếu tự tin, không quyết đoán và không nhận lãnh trách nhiệm to tác, bỏ mất nhiều cơ hội tiến xa.
    Nhưng cũng nhờ vậy mà tránh được sóng gió thăng trầm. Nếu đừng để tình duyên rối rắm, sớm tạo thành sự nghiệp, tuổi trẻ đỡ vất vả, lo âu, bị tai tiếng.
    Dù hoàn cảnh nào, quý anh cũng không lâm vào khó khăn, nhờ ăn ở có phước đức. Trên 40 tuổi, là thời gian vượng phát, đường đi thênh thang, sự nghiệp vững bền nhưng lớn hay nhỏ là nhờ tùy hạt giống đã gieo mà nhận quả.

    Sự nghiệp:

    Năm nay quý anh gặp sao Thái Âm chiếu mạng, gặp nhiều may mắn trong công danh tài lộc, mưu sự dễ thành. Sao Thái Âm thuộc hành Kim, đối với Quý Anh, mạng Hỏa, dù có trở ngại cũng dễ vượt qua, dành nhiều thắng lợi.
    Nhìn chung năm nay Sao Vận khá tốt, nhưn g Tử Vi không nên, trong may có rủi. Nếu đừng để tình cảm chi phối, công việc vẫn có kết quả khả quan, cuộc sống không mấy khó khăn dù phải đương đầu với trắc trở.
    Năm nay, sinh con cũng khá tốt, đứa bé tuổi Tỵ sẽ làm tăng hạnh phúc gia đình.
    Quan hệ bạn bè, quý anh luôn chịu phần thua thiệt, năm nay càng phải cẩn thận, có thể vì bạn bè mà mất của mất tiền, cuộc sống gia đình dễ sinh chuyện bất hòa. Đối với Quý Anh độc thân, năm nay vắng bong Hồng, Đào, nếu có quan hệ tình cảm cũng không đi đến đâu, đề phòng “tiền mất, tật mang”. Cuộc sống có nhiều rối ren, chịu khó chồ năm tới sẽ lập gia đình.

    Quý Anh hợp với người tuổi

    Khắc kỵ với:

    Khai trương, nhận việc, xuất hành nên chọn giờ lẻ, ngày lẻ tháng lẻ

    Sức khỏe:

    Năm nay, với hạn Diêm Vương, cẩn thận phòng tai nạn đổ máu và quan tâm đến tim mạch, huyết áp. Ngoài ra nên để ý phòng ngừa các bệnh lây nhiễu qua đường máu. Lái xe cẩn thận, bổn mạng bất an.
    Source: timbacsy

Tuesday, December 25, 2012

Fun tý cho vui


Thời nay ghế ít đít nhiều
Nên mày phải nhớ những điều sau đây

Ăn chơi là việc của tao
Việc nghĩ việc viết tao giao cho mày
Việc tao ngồi ký suốt ngày
Thực thi việc ấy thì mày thay tao
Việc tao là hưởng lộc cao
Công lên việc xuống lại giao chúng mày
Giao lưu khắp thế gian này
Mở rộng tầm mắt, việc này phải tao
Trèo đèo lội suối gian lao
Tao nghĩ đã kỹ, phải giao cho mày

Lại đây tao bảo câu này
Tao cấm chúng mày nghĩ việc chống tao
Chống tao, tao chả làm sao
Nhưng mày nghĩ bậy nên tao trị mày
Trời cao biển rộng đất dày
Tao đố chúng mày thoát khỏi tay tao
Trên trời ngàn vạn vì sao
Mấy ai hiểu được tình tao với mày

---------------------------------------
Cấm được hôn bừa hôn bãi.
Cấm được hôn sư sãi đang tụng kinh.
Cấm được hôn người cùng giới tính với mình.
Động tác chính chỉ từ đầu xuống cổ.
Cấm được hôn băm hôn bổ.
Cấm được hôn sấn sổ vồ người ta.
Cấm được hôn giữa bãi tha ma,
Để người chết còn nằm yên dưới mả.
Khi được hôn toàn thân phải buông thả,
Miệng khép hờ, không được cắn chặt môi,
Cũng không được mở rộng như miệng nồi ,
Tránh tình trạng vi trùng chui vào miệng.
Cấm được vừa hôn vừa nói chuyện.
Đồng ý xong rồi cấm kiện nhau.
Có thể hôn vòng từ trước ra sau,
Nếu thấy đau thì lại từ sau ra trước.


Khi hôn miệng chớ để chảy nước,
Lưỡi uốn mềm theo nhịp bước con tim.
Trong lúc hôn đôi mắt phải lim dim,
Lúc say đắm phải biết dìm người xuống.
Nụ hôn đầu thở gấp không luống cuống,
Phút thẫn thờ sung sướng chớ mím môi,
Hôn tình tứ lãng mạn và đẹp đôi.
Hôn đứng xong đến hôn ngồi đỡ mỏi.
Trước khi hôn chớ ăn hành ăn tỏi,
Cũng không được để bụng đói khi hôn.
Khi đang hôn chớ dừng để nghe phone.
Hôn tha thiết chớ bồn chồn vội vã....

Đã trót hôn thì phải hôn cho đã,
Hôn đến khi thân mình vã mồ hôi.
Dù quần áo xộc xệch và lôi thôi,
Cứ hôn tiếp cho tới hồi lưỡi rát.
Hôn thì hôn cẩn thận bị ăn tát
Vì đôi tay mất trật tự quá cơ.
Miệng thì hôn mà đầu óc lại cứ mơ,
Mong bến đỗ để hạ cờ buông lái.
Nụ hôn thơ thỏa lòng người ân ái
Tặng người người mãi và mãi yêu nhau.
---------------------------------
Ngày xưa sung sức thì nghèo,
Bây giờ rủng rỉnh thì teo mất rồi
Ngày xưa sức khỏe tuyệt vời,
Bây giờ nó có đàn hồi nữa đâu.
Ngày xưa sức mạnh như trâu,
Bây giờ công cụ nát nhàu như dưa.
Ngày xưa chẳng kể sớm trưa,
Bây giờ loáng thoáng lưa thưa gọi là.
Ngày xưa như sắt như đồng,
Như đinh đóng cột như rồng phun mưa.
Bây giờ như cải muối dưa,
Mười thang Minh Mạng vẫn chưa ngẩng đầu.
Trải qua một cuộc bể dâu.
Ôi thời oanh liệt còn đâu nữa nào.
Nay mai về với Ông Bà,
Nấp sau nải chuối ngắm gà khỏa thân
------------------------------Ngày xưa như sắt như đồng

Như đinh đóng cột, như rồng phun mưa
Bây giờ như cải muối dưa
Mười thang Minh Mạng vẫn chưa ngẩng đầu
Hơn nửa thế kỷ dãi dầu
Tháng ngày oanh liệt còn đâu nữa mà
Ngày xưa súng ống sáng loà
Bây giờ chẳng khác quả cà mốc meo
Ngày xưa sung sức thì nghèo
Bây giờ rủng rỉnh thì teo mất rồi
Ngày xưa lớn khoẻ hơn chồi
Bây giờ nó có đàn hồi nữa đâu
Ngày xưa hùng hục như trâu
Bây giờ èo ọt như tàu lá khoai
Ngày xưa khám phá miệt mài
Bây giờ nửa cuộc mệt nhoài đứt hơi
Ngày xưa chiến tích để đời
Bây giờ chiến bại nhớ thời ngày xưa
Ngày xưa bất kể sớm trưa
Bây giờ thỉnh thoảng lưa thưa gọi là
Ngày xưa đầu tóc mượt mà
Bây giờ lởm chởm như là đá chông
Bây giờ sống cũng như không
Bây giờ hết kiếp làm chồng người ta
Bây giờ ôm hận đến già
Cho dù béo tốt cũng là cơm toi
Bây giờ pháo đã xịt ngòi
Gia tài còn lại một vòi nước trong
Ngày xưa vợ đợi bồ mong
Bây giờ vợ nguýt, bồ cong cớn lườm
Ngày xưa mặt mũi tinh tươm
Bây giờ nhầu nhĩ như tương nấu mì
Ngày xưa lên ngựa là phi
Bây giờ nước kiệu cố đi gọi là


Ấy là kể chuyện trong nhà
Sang nhà hàng xóm vẫn là… ngày xưa
------------------------
Đưa tay bóp thử cái xem sao
Thấy nó mềm nên đút vòi vào
Vặn vặn xoay xoay rồi đứng dậy
Nhấp nhổm xuống lên nhấn ào ào
Mệt mỏi, mồ hôi đầy trên trán
Nữ khách đâm lo nói thì thào
- Anh ơi cẩn thận không chửa đấy
- Tôi dấn thế này chửa làm sao?

Tên bài thơ: Bơm xe đạp!
-----------------------
Toàn dân Tiên Long! Sơn hà nguy biến!
Hận thù đằng đằng! Nên thôi hay chiến?
Diên Hồng tâu lên cùng Minh đế báo ân
Hỡi đâu tứ dân! 
Đánh không?!!
Bô lão trong làng đằng đằng tâm ước:
Đánhhhhh!!!

Quân vương mặt lạnh băng, thản rút ra con N958Gb,
"Allo, anh Hải à, ghi cho em con lô 69"!
---------------------------
Sex is ...like Nokia ( connecting people) ... like Nike ( just do it ) ...like Pepsi ( ask for more) ... like Samsung ( everyone is invited) ... like Triump ( fashion and so much more) ... like Electrolux (... 40 years, still works well) <== I like it
---------------------------------
JAPAN=Pumping And Jumping All Night; PARIS=Please Allow Rape In School; AFRICA: After Sex, Rest In Cool Air; BOMBAY=Both Of My Balls Are Yours!!!
------------------------------
Lúc 3 tuổi, sự thành công là… không đái dầm. Lúc 10 tuổi, thành công là có nhiều bạn bè. Đến 16 tuổi, thành công là… có bằng lái xe. Đến 20 tuổi, thành công là… được make love. Đến 40, thành công là… tiền bạc rủng rỉnh. Ngược lại nhé: đến 50, thành công là… tiền bạc rủng rỉnh. Tới tuổi 65, thành công là vẫn… được make love. Tới 75 tuổi, thành công là vẫn… lái xe được. Tới 85, thành công là vẫn… còn có bạn. Tới 90, thành công là không… đái dầm ====> Vòng đời
---Collected------


Saturday, December 22, 2012

Bánh Tây


  
(Ảnh: google image)
Người Việt thường hay gọi chung các loại bánh với nguyên liệu chính là bột mì và nướng trong lò nướng với những danh từ chung như bánh ngọt, bánh Âu. Các loại bánh ngọt ngày nay có nguồn gốc từ phương Tây, cụ thể là cả vùng châu Âu sau đó sang Mỹ, chứ ko phải như nhiều người lầm tưởng Pháp là cái nôi bắt nguồn các sản phẩm bánh mì bánh ngọt. Nếu "truy tìm" nguồn gốc một cách chi li thì phải kể đến công lao của những người Ai Cập và Hy Lạp cổ đã phát minh ra lò nướng, và hàng thế kỉ sau, đó là công lao của tổ tiên người Rome.
Trong bài viết này mình cũng không định tìm hiểu sâu xa gì về khía cạnh nguồn gốc lịch sử (vốn dốt sử và chưa đọc được nhiều tài liệu), mà chỉ dám khiêm tốn đưa ra những cách phân biệt cơ bản về tên gọi các loại bánh Âu Mỹ vốn càng ngày càng hấp dẫn với nhiều người Việt muốn được ăn thử và làm thử. Mình cũng chỉ có thể nhắc đến tên gọi chung của các loại bánh quen thuộc, còn tên gọi riêng thì có rất rất nhiều mình cũng không thể biết được hết. 
Tất cả các sản phẩm liên quan đến việc sử dụng bột, trứng, chất béo và nướng lên được gọi chung là PASTRY. Vì thế, người đầu bếp chuyên phụ trách việc làm ra những sản phẩm này được gọi là Pastry Chef. Từ "cake" mà người Việt hay gọi là "bánh ngọt" chỉ là 1 mảng rất hẹp trong Pastry mà thôi. 
1. Bread – Bánh mì
Phân biệt 2 loại:
Bánh mì thường(lean yeast bread) thành phần chỉ có bột và nước, có thể có dùng men hoặc không dùng men, vì thế có loại bánh mì cần qua quá trình ủ nở lên men và có loại không qua quá trình này. 
Bánh mì "ngọt": (rich yeast bread)  từ "ngọt" được dịch khá phiến diện, đây là những loại bánh mì ngoài bột, nước, men, có sử dụng thêm các thành phần khác như đường, chất béo, sữa, bột sữa, vì thế bánh mì có thêm nhiều mùi vị thơm ngon và kết cấu khác với bánh mì thường. 
2. Quick bread – Bánh mì nhanh
- Đây là tên gọi chung cho các loại bánh-dạng-bánh-mì nhưng không qua công đoạn ủ và lên men tự nhiên (khoảng vài tiếng) mà dùng các chất hóa học gây tác dụng nở nhanh, vì thế làm rất nhanh. Quick bread cũng thường có kết cấu mềm hơn và "rich" hơn, không có được độ dai như với bánh mì nở bằng men tự nhiên. 
- Quick breads bao gồm các loại bánh với tên gọi như: muffins, scones, loaf bread, coffee cakes. 
+ Muffins: có dạng giống chiếc bánh nhỏ hình cốc, có thể được để trong cốc giấy hoặc không cần. Muffins ngọt hoặc mặn đều có. 
+ Scone: dạng hình nón, hình tam giác bẹt. 
+ Loaf: hình khối chữ nhật
+ Coffee cake: làm với khuôn tròn, vuông, chữ nhật, vv.. 
3. Bánh không dùng lò nướng:
Đây là những loại bánh dùng phương pháp rán bằng chất béo. Các loại phổ biến:
Doughnuts (donut): bánh ngọt có hình bánh xe tròn, làm chín bằng cách rán ngập dầu.
Pancake: bánh rán chảo làm chín bằng cách quét lớp dầu/bơ mỏng lên mặt chảo, bánh dẹt, mỏng. 
Crepe: gần giống như pancake nhưng được tráng mỏng hơn rất nhiều. 
- Waffles: bánh có dạng mỏng, dẹt và thường làm vào khuôn riêng. 
Fritters: bánh có vị ngọt và mặn tùy nguyên liệu sử dụng, không có hình dạng cố định, làm chín bằng rán ngập dầu. 
4. Pie và tart:
Hai loại bánh này dễ bị nhầm lẫn với nhau. 
Pie: bánh vỏ kín có chứa nhân bên trong, tất cả gọi chung là vỏ pie. Bột cho vỏ pie được chia làm 2 phần, 1 phần cán mỏng làm đế, xếp nhân bên trong, rồi phần còn lại cán mỏng phủ lên trên, gắn kín các mép và xiên thủng vài chỗ trên vỏ bề mặt để hơi thoát ra trong quá trình nướng. 
Tart: bánh ko có vỏ, nướng hở phần nhân. Tart là 1 dạng đặc biệt của pie mà ko cần 1 lớp vỏ bọc kín nhân. 
Có cả tart và pie ngọt hoặc mặn. 
5. Cake (bánh bông lan?)
Tên gọi chung cho các loại bánh ngọt có hàm lượng chất béo và độ ngọt cao nhất trong các sản phẩm bánh nướng lò. Làm bánh dạng cake đòi hỏi nhiều sự chính xác về cân đong nguyên liệu. Cấu trúc bánh thường là mềm, xốp, nhiều hương vị và bánh cake được nướng và trình bày dưới nhiều hình dạng khác nhau. 
- Cupcake: là một trong nhiều cách trình bày của cake, bánh dạng nhỏ, đựng trong những chiếc cup giấy xinh xắn. 
Chiffon, angel food, devil food: là dạng bánh bông xốp mềm được tạo thành nhờ việc đánh bông lòng trắng và lòng đỏ riêng biệt. Bánh được nướng trong khuôn tube.
+ Chiffon: dùng dầu ăn làm thành phần chất béo trong bánh. Cả lòng trắng và đỏ đều được sử dụng nhưng tách riêng trong quá trình làm. 
+ Angel food: chỉ dùng lòng trắng đánh bông, không có chất béo. Bánh nhẹ và trắng như bông. 
+ Devil food: bánh có màu đen chocolate, dùng bơ làm chất béo. Là một dạng bánh dùng bơ (butter cake)
Pound cake: Bánh có hàm lượng chất béo và đường đều cao, tên gọi để chỉ các nguyên liệu chính đều có khối lượng 1 pound Anh, khoảng 454g.  Bánh này thường có kết cấu nặng và đặc hơn bánh dạng bông xốp. Bánh làm trong khuôn loaf hoặc khuôn bundt. 
Cheesecake: thành phần chủ yếu của bánh là cream cheese. Bột được sử dụng rất ít hoặc không sử dụng. 
6. Cookies: 
Từ cookie có nghĩa là "bánh nhỏ – small cake". Có loại cookie được làm từ hỗn hợp bột khá giống như với cake, nhưng trong phần lớn trường hợp, cookie có hàm lượng nước thấp. Cookie rất đa dạng, có loại mềm, ẩm, khô, giòn, dai, xốp, cứng.

Nguồn; kokotaru blog

Tuesday, November 27, 2012

English Learning Resource Websites


To my students

Basic Skills Coverage (options for all skills)
http://oelp.uoregon.edu/learn.html -- Very Comprehensive Collection of Options

Grammar

Pronunciation

Vocabulary Practice

Vocabulary Dictionaries & Word Study
http://www.visuwords.com/fullscreen/ (very interesting word association/derivation graphic)

Vocabulary Analysis & Corpora
http://www.wordle.net/ (word cloud creation:  great for poems, predictions, etc.)
http://www.just-the-word.com/ (concordance shows frequency, easy to use)
http://www.lextutor.ca/vp/ (vocab analysis)
http://www.lextutor.ca/concordancers/concord_e.html (concordance: good sorting options)
http://corpus.byu.edu/coca/ (focus on contemporary American English)
http://corpus.byu.edu/bnc/ (focus on contemporary British English)

Vocabulary Tutorials
www.wordworkskingston.com is Pete Bower's website.
www.realspelling.com is Melvyn Ramsden's.

Reading
http://www.classicreader.com/ (free online books)
http://theweek.com/home (USA and international news)
http://www.emule.com/poetry/ (free online poetry)
http://www.encyclopedia.com/ (free online encylopedia)
http://www.newspapers.com/ (links to newspapers around the globe)
http://www.newseum.org/todaysfrontpages/default.asp (front pages from around the globe)
http://www.americanfolklore.net/ (American folk stories)
Listening
http://www.npr.org/ (streaming and podcast resources)
http://librivox.org/newcatalog/ (audio books read at natural speed)
http://www.cdlponline.org/index.cfm (articles on life experiences)
http://themoonlitroad.com/ (Folk Stories of the South (USA))

Speaking
http://www.americanrhetoric.com/ (speeches, historical and film)
http://www.voxopop.com/ (audio message boards)

Writing
http://www.io.com/~hcexres/textbook/ (technical writing)
http://www.writingfun.com/ (mind-mapping, organizer tools)

Plagiarism Tutorials

Academic skills
http://www.lc.unsw.edu.au/olib.html (online resources - Learning Centre, University of New South Wales)




Playful or Practical Creations
http://www.eduplace.com/tales/ (mad lib word play)
http://www.crayon.net/ (create your own newspaper)
http://voicethread.com/#home (online collaboration)


Idioms & Slang

Typing Lessons

Videos (fun and serious)
http://www.brainshark.com/ (upload and add voice over to videos)
http://www.myefa.org/login.cfm  (videos on life skills)

Proprietary Sites (free trial, paid membership)

Early English Education Resources

Collected by Willilam Cole French

Monday, November 26, 2012

TẮM TIÊN Ở VÙNG CAO


Đến Tây Bắc, bên con sông Nậm Nhé, ta có thể nhận ra bản Thái qua những đặc điểm như cọn nước, cối nước, những điệu múa xoè liên tu bất tận và cả những mó nước yên bình kín đáo, nơi những cô gái dân tộc Thái thả mình vào dòng nước thiên nhiên mát lạnh.
Thật khó tưởng tượng nổi khi trên các khe nước, suối nguồn của Mường Pồn, Mường Lay, Mường Tè, thị xã Lai Châu mất đi bóng dáng của con gái Thái đi "tắc nặm" (vác nước), "pây áp nậm" (đi tắm suối)? Nếu thế thì khác gì núi rừng Tây Bắc không còn hoa ban. Người Thái rất coi trọng những nguồn nước xung quanh họ và coi đó như một sản vật linh thiêng mà thần linh ban tặng. Những nét sinh hoạt của người Thái đều gắn liền với dòng nước từ giã gạo, ăn uống, giết mổ và cả việc tắm táp.
Con gái Thái rất kín đáo nhưng giỏi giang, nếu bạn lên Lai Châu sẽ gặp không ít các cô gái Thái lái máy cày làm đất trên cánh đồng Mường Thanh, hướng dẫn thăm hầm Ðờ Cát và giao dịch đổi ngoại tệ cho du khách ở sân bay Ðiện Biên Phủ.
Một hình ảnh rất ấn tượng khác đôi khi gặp là các cô gái Thái mặc đẹp đi lao động và vai trần, váy cạp lửng bầu vú khi về nhà. Dù đi xúc cá hay vác xẻng vạt bờ ruộng thì lúc về nhìn họ vẫn sạch sẽ tinh tươm, duyên dáng bởi suối mát đã đem lại sảng khoái và tôn lên vẻ đẹp của họ sau một buổi lao động.
Ðầu mỗi bản Mường ven lối mòn đều có ống bương dẫn nước từ khe suối và mỗi con suối đều có bến tắm riêng dành cho phụ nữ - không che chắn, nhưng có lẽ đã thành lệ: không có người đàn ông nào dám bước vào thế giới riêng dành cho phụ nữ. Trước đây lúc đi tắm, con gái Thái thường vác theo ống bương nước lá thơm để tráng người - bây giờ đã được thay thế bằng xà phòng thơm.
Vào chiều tà nóng nực dọc suối Nậm Lay - con suối từ Mường Tùng chảy dọc Mường Lay và thị xã Lai Châu thường hay gặp cô gái váy cuốn đội đỉnh đầu tắm tiên phơi mình trên dòng suối mát. Nếu bạn "vô tình" phải lội qua gần chỗ tắm, họ sẽ thả váy xuống dần theo mực nước - cạp váy lửng lên bờ.
Thật là tài tình, ngay từ những bước đầu tiên lội xuống dòng nước suối trong vắt, chiếc váy xoè dần được nâng lên theo nhịp chân bước. Nước dâng lên đến đâu, chiếc váy được vén dần lên đến đó cho đến khi toàn bộ cơ thể đều được dòng suối nhẹ nhàng bao bọc lấy thì váy áo sẽ nằm trên đỉnh đầu. Dòng nước trong vắt chảy nhẹ nhàng chỉ vừa đủ để khiến mặt suối lăn tăn gợn sóng như muốn ngăn những ánh mắt tò mò của những chàng trai bản vô tình đi ngang.
Có khi các cô gái có thể vừa tắm vừa trò chuyện với những người trai bản bơi lội trong mó nước gần đó mà không hề e sợ phơi lộ những bí mật tạo hóa ban tặng. Đến khi tắm xong, váy áo rất hiếm khi bị ướt mà cơ thể thì đã được tắm táp thoả thích trong dòng nước mát. Váy áo lại được thả dần xuống theo bước chân cô gái Thái lên và tới gần bờ thì trang phục đã gần như chu chỉnh hoàn toàn, váy được khéo léo cuốn lên ngang ngực.
Lúc này mái tóc mới được quan tâm đến, cô gái cúi gập người bên suối mà rũ tóc, quay tóc trong làn nước trong lành tinh khiết như pha lê. Sau này, khi làn sóng ăn mặc hiện đại tràn đến những thôn bản người Thái, họ vẫn giữ thói quen nguyên cả người xuống tắm chứ không một tòa thiên nhiên như những dân tộc khác quanh miền Tây Bắc.

Tắm tiên ở Tây bắc có lẽ là một nghệ thuật mà người con gái dân tộc Thái được học ngay từ khi bắt đầu biết khép nép thẹn thùng. Vẻ đẹp chân chất, trong sáng đến mức thánh thiện của các cô gái Thái đã trở thành nguồn đề tài và cảm hứng vô tận cũng như làm nên sức sống cho bao tác phẩm thơ, ca, nhạc, họa…
Nhiều áng văn thơ, ca khúc như: Tiễn dặn người yêu - (trường ca dân tộc Thái), Nhớ vợ, Em tắm, đều lấy bối cảnh sông suối để ca ngợi vẻ đẹp của người con gái Thái. Bài thơ Em tắm của Bạc Văn Ùi, dân tộc Thái, được bình chọn là một trong 100 bài thơ hay nhất của thế kỷ hai mươi:

Sao anh lại rình Trộm xem em tắm
  Da của em ngần trắng
  Da của mẹ, của cha
  Tay của em lấm lem
  Tay của than của bụi
  Tay của rừng của núi
Tay của đất của nương
Em tắm xong lại sạch
Vẫn ngát thơm hoa rừng
Da của em trắng ngần
Là của anh tất cả
Không phải người xa lạ
Việc gì mà trộm xem
 Em tắm suối giữa mường
Tắm trong mối yêu thương
Có anh đang đứng giữ
Chớ để Tây đến mường

Ở một nơi khác: người Thái ở Tú Lệ (Yên Bái) ngày nay vẫn giữ nét sinh hoạt truyền thống tắm hồn nhiên bên dòng suối Tú Lệ và trở thành những nàng tiên giữa trời đất.
Lữ khách tới đây cũng có thể cùng tắm, các chàng trai cũng được phép tắm chung, được hòa mình vui đùa giữa thiên nhiên, nghỉ ngơi hay thư giãn. Tuy nhiên tuyệt đối phải giữ khoảng cách và không được có những hành vi xấu, nếu không sẽ bị trai bản và chính quyền trừng phạt.

Không chỉ ở Tây Bắc mà ở nhiều vùng cao khác, cả ở Tây nguyên: phụ nữ vẫn khỏa trần tắm suối sau buổi lao động cực nhọc trên rẫy. Ở nhiều nơi vào buổi chiều tà, hàng chục sơn nữ bỏ công cụ lao động trên những tảng đá lớn rồi hồn nhiên trút xiêm y như chốn không người. Các sơn nữ phơi làn da trắng ngần ngồi trên tảng đá, khua chân dưới nước, nói cười rổn rảng, khiến cảnh đại ngàn âm u trở nên đẹp như một câu chuyện cổ tích, đó thực là một bức họa thiên nhiên tuyệt tác. Nhìn từ xa mọi thứ đều mờ ảo trước mắt, chỉ có làn da của các sơn nữ là nổi bật giữa cảnh hoang sơ chập choạng trong bóng chiều tà... khiến dòng suối già nua, trầm mặc cũng trở nên lung linh, huyền ảo. Nếu tình cờ xuất hiện người lạ, các sơn nữ vơ vội quần áo mặc ngay dưới nước hoặc núp sau những tảng đá.
Văn minh ngày nay đã vào tận những bản làng xa xôi hẻo lánh cộng với những ánh mắt tò mò của người miền xuôi khiến nhiều phong tục, tập quán của đồng bào mất đi, trong đó, tục tắm suối cũng mai một rất nhanh.

Mà cũng phải: người miền xuôi tò mò, trố mắt nhìn đăm đăm rồi chụp ảnh phổ biến trong cộng đồng kèm với những dòng bàn tán không mấy hay ho.
Chính cái sự quá đà này đã khiến người vùng cao ngày nay kín đáo hơn, tránh né hơn khi tắm tiên. Giờ đây, tìm được một con suối, nơi mà các thiếu nữ khỏa tấm thân ngọc ngà trong làn nước trong mát hiếm dần.
Có lẽ tắm suối đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc cần bảo tồn. Suy cho cùng thì loại trừ suy nghĩ dung tục, có lẽ “tắm tiên” là phương pháp tốt nhất để con người hòa mình với thiên nhiên một cách trọn vẹn nhất, ai tắm mà không phải khỏa thân?
Ở thành phố: người đông đúc, nhà san sát nhau nên trong một cắn hộ có đầy đủ các tiện nghi từ nhà vệ sinh, nhà bếp đến nhà tắm... thì giữa chốn rừng núi bao la ít người: nhà tắm là một con suối trong vắt chảy từ đỉnh cao khác gì một phòng tắm đầy đủ tiện nghi giữa thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ?
Nếu trân trọng phong tục cổ truyền, nếu biết nhìn sự việc dưới ánh mắt nghệ thuật, biết chiêm ngưỡng vẻ đẹp của suối nguồn Tây Bắc, Tây nguyên trong một chiều các cô sơn nữ tắm tiên thì bạn sẽ thấy lòng mình trong sáng, thanh cao hơn như được hòa mình cùng đất trời và người của vùng cao huyền thoại.
Người ta vẫn kháo nhau, lên Tây Bắc mà xem con gái Thái tắm tiên. Con gái Thái da trắng như hoa ban, uyển chuyển với những đường cong tuyệt mỹ. Con gái Thái dịu dàng, hiền thục… Mới nghe có vẻ như thô và phàm tục, nhưng với những người đã từng ở Tây Bắc, hoặc am hiểu văn hóa Thái thì cảnh con gái Thái tắm tiên là một phần không thể tách rời trong văn hóa Thái và nếu thiếu cảnh trữ tình, nên thơ ấy, suối ngàn Tây Bắc sẽ kém đi vẻ lung linh huyền ảo. Tây Bắc sẽ phần nào kém đi vẻ đẹp dung dị nhưng vô cùng lãng mạn, nên thơ.
Người ta đi ngắm các cô gái hòa mình với thiên nhiên đậm chất hoang sơ và huyền thoại như ngắm ánh bình minh trong sương sớm, ngắm hoa ban khoe sắc mùa xuân, hay thả hồn trong một tiếng chim lảnh lót đầu non, chẳng khác nào được nồng say trong vũ điệu xòe, hay lâng lâng trong men rượu cần ngọt lịm, một điệu khắp trữ tình… để rồi tự lúc nào thấy mình trong sáng hơn, biết trân trọng nâng niu những gì mà tạo hóa đã ban cho con người, giúp con người hướng thiện hơn, có thêm nghị lực, niềm tin, vươn lên trong cuộc sống.
Các cô gái Thái ngay từ lúc còn nhỏ đã được các bà, các mẹ dạy cho cách thắt khăn nơi thắt lưng – xài yêu để có được thân hình tuyệt đẹp theo tiêu chí: Eo kíu manh po – nghĩa là thắt đáy lưng con tò vò, giống như thắt đáy lưng ong của các cô gái miền xuôi. Còn mái tóc luôn được chăm chút gội bằng các loại lá thơm như hương nhu, sả, bồ kết… và chải chuốt bằng nước vo gạo nếp. Lại được tắm mình trong không khí trong lành của thiên nhiên hùng vĩ, bởi vậy cô gái Thái nào cũng cao ráo, trắng hồng, mái tóc đen dài mềm mại. Không những thế, các cô còn rất giỏi trong những công việc nội trợ như làm ruộng, quay xa, thêu thùa, dệt vải, múa xòe… mà những câu dân ca Thái đã miêu tả được phần nào: Nướng quả ớt thơm mùi đĩa chéo Đụng vào khung cửi vải thành hoa Tung nắm tấm thành ra đàn gà…, Úp bàn tay trái đã thành hoa đào Ngửa bàn tay phải đã thành hoa tươi đất Mường Hỏ Ngồi xổm thêu được thành hình chim phượng hoàng Ngồi nghiêng quay sợi thành chùm hoa so se (dân ca Thái). Vẻ đẹp chân chất, trong sáng đến mức thánh thiện của các cô gái Thái đã trở thành nguồn đề tài và cảm hứng vô tận cũng như làm nên sức sống cho bao tác phẩm thơ, ca, nhạc, họa… Bởi vậy, khi ngắm các cô gái Thái dịu dàng trong trang phục truyền thống: váy đen bó sát người, xửa cỏm – áo ngắn lung linh đôi hàng mák pém – cúc bạc hình bướm, khăn piêu bồng bềnh trên đầu như áng mây xuân sớm tôn sắc hồng má đào thiếu nữ, một dải khăn xanh là điểm nhấn nơi thắt lưng và dây xà tích bạc buông lơi bên hông, mỗi người đều như thấy ngân rung trong lòng một cảm giác thanh cao trước một vẻ đẹp hoàn mỹ đến mức thật khó đặt tên, cứ dư ba trong lòng người và chợt thổn thức dâng dâng trong ký ức mỗi khi xa nhớ về Tây Bắc… Sau mỗi buổi lao động về, các cô gái nghỉ chân bên suối, làn nước mát lành làm sạch sẽ bụi bặm, trả lại nước da trắng ngần của mẹ, của cha và tinh hoa của núi ngàn chung đúc hàng ngàn năm mới có được. Bao nỗi mệt nhọc trôi theo dòng nước, con người như được tiếp thêm nguồn năng lượng mới.
Nếu các chàng trai thường chọn nơi vực sâu, nước xiết để vẫy vùng thỏa sức trai thì các cô gái lại tìm nơi dòng chảy nông hơn, kín đáo. Các cô quay mặt vào bờ, ý tứ cởi cúc áo, chiếc váy lúc này được kéo cao che kín khuôn ngực thanh tân, lội xuống nước tới đâu váy được nâng dần lên đến đó. Cho đến khi dòng nước đủ che kín thân mình, các cô gái khéo léo quấn chặt váy trên đầu như một bông hoa, dù bơi lội, đùa nghịch, chiếc váy vẫn không thể rơi được. Thân hình tuyệt mỹ của các cô gái ẩn hiện dưới dòng nước biếc, thực đấy mà ảo đấy. Các cô hồn nhiên té nước, trong ánh chiều Tây Bắc, từ những bàn tay như bông hoa ban huyền thoại tung lên muôn ánh cầu vồng.
Dòng suối như lòng mẹ ôm ấp vuốt ve tấm thân tuyệt mỹ, sỏi đá nơi lòng suối thêm rạng ngời ngần trắng, chim rừng ngưng hót, gió như ngừng thổi, chỉ còn xanh ngắt đến thẫn thờ ngàn con mắt lá của đại ngàn. Tất cả như lặng đi trước kiệt tác của núi ngàn Tây Bắc…
Những dòng suối của khắp vùng Tây Bắc thường có những cái tên vô cùng thơ mộng, chở đầy khát vọng về cuộc sống ấm no hạnh phúc, về tình yêu trắng trong chung thủy: Suối Tiên, Suối Mơ, Suối Xuân… Không biết có phải từ khi các cô gái Thái khỏa mình trong dòng biếc, những dòng suối già nua trầm mặc chợt nhận ra mình có một trái tim và tâm hồn trẻ trung, để rồi cứ mộng mơ, khao khát một cuộc sống bình dị, yên vui – ước mơ cháy bỏng của bao đời? Để rồi những ai được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của suối nguồn Tây Bắc trong một chiều các cô gái Thái tắm tiên, chợt thấy mình trong sáng hơn, thanh cao hơn, như được hòa mình cùng đất và người của Tây Bắc huyền thoại…
Sơn nữ tắm tiên – tuyệt tác núi rừng ở Phú Thọ Hàng chục sơn nữ bỏ công cụ lao động trên những tảng đá lớn, rồi hồn nhiên trút xiêm y, như thể là chốn không người. Các tiên nữ phơi làn da trắng ngần ngồi trên tảng đá, khua chân dưới nước, nói cười rổn rảng, khiến cảnh đại ngàn âm u trở nên đẹp như một câu chuyện cổ tích. Đó thực là một bức họa thiên nhiên tuyệt tác.
Con đường vào bản Bến Thân (Đồng Sơn, Phú Thọ) nhầy nhụa bùn đất, cheo leo dốc ngược. Ngày trước, để vào Bến Thân, không có cách nào khác là cuốc bộ gần chục km. Con đường đang được một đơn vị lâm nghiệp của tỉnh mở để vận chuyển nguồn nguyên liệu ra ngoài.
Thế nhưng, đi được một đoạn, tôi đành phải vứt xe máy bên vệ đường, rồi cuốc bộ hơn giờ đồng hồ mới vào tới Bến Thân. Cơn mưa bất chợt đã khiến con đường trở thành bãi sình lầy bùn đất nhão nhoét, trơn trượt không thể đi nổi.
Bến Thân hiện ra với vài nóc nhà co cụm dưới thung lũng, chìm nghỉm trong sự bao bọc của rừng rậm.
Bến Thân là bản của người Dao, là nhóm người di cư từ Sơn La về lập bản từ những năm 60 của thế kỷ trước.
Hiện Bến Thân vẫn chưa có điện, nhà nào khá giả thì sắm máy thủy điện cá nhân, thắp vài bóng phập phù. Đại đa số vẫn dùng đèn dầu như người miền xuôi mấy chục năm trước. Theo Phó Chủ tịch xã Hà Thanh Vận, chính vì cuộc sống tự cung, tự cấp giữa rừng già, ít giao lưu với bên ngoài vì đường sá xa xôi hiểm trở, nên đồng bào nơi đây vẫn giữ được những phong tục tập quán cổ xưa, trong đó có tục “tắm tiên” dưới suối. Dòng suối Thân mát lành cắt con đường dẫn vào Bến Thân, chảy uốn lượn một vòng quanh bản trước khi chảy ra bản Xuân, xuống tận Lai Đồng để hòa vào sông Bứa. Cô giáo tiểu học Lý Thị Thơm đã dẫn tôi cuốc bộ nửa ngày trời để đi tìm thượng nguồn suối Thân. Dòng suối này chảy ra từ bụng dãy núi đá vôi hùng vĩ.
Cô giáo Thơm cùng tôi chui vào một hang động khổng lồ, đi miên man mãi không hết lòng núi. Có một dòng sông ngầm chảy ào ào trong bụng dãy núi đá vôi đó. Con suối Thân nhận nước từ lòng núi, nên mát lạnh trong mùa hè và ấm áp trong mùa đông. Nước trong đến nỗi, những vũng nước sâu vài mét vẫn nhìn thấy con cua đá đang bò lổm ngổm.
Chị Lý Thị M, người đàn bà góa chồng, ở tuổi ngót 40 vẫn đẹp rực rỡ như một bông hoa rừng nhẹ nhàng cởi chiếc gùi trên lưng, trút bộ quần áo lấm lem rồi hồn nhiên khỏa mình dưới dòng nước trong mát. Làn da trắng ngần lấp lánh, sóng sánh trong làn nước phản chiếu ánh mặt trời. Tôi nhảy lên một tảng đá chụp ảnh lia lịa. Người đàn bà hai con này bẽn lẽn giấu kín mình sau vạt áo, đôi má chợt ửng đỏ. Chị bảo: “Mình già rồi, đừng chụp ảnh nữa, xấu hổ lắm. Nếu nhà báo muốn chụp hình thì chiều mình dẫn nhà báo lên bến tắm, ở đầu nguồn suối Thân, cuối bản cơ. Ở bến tắm đó nước trong vắt, mới có nhiều người đẹp”.
Khi mặt trời đã bắt đầu ngấp nghé đỉnh núi, hoàng hôn đỏ rực trên những mỏm núi gần núi xa. Bóng tối đã bắt đầu chìm ngập dưới các thung sâu. Đứng trên sườn núi nhìn xuống, thấy từ những con đường mòn vắt vẻo trên sườn núi, từng đoàn người vác cuốc xẻng, gùi nặng trên vai đổ về bến tắm ở cuối bản. Tôi và chị Mai lội bộ ngược suối, đến một tảng đá lớn, bến tắm là một bãi đá rộng mênh mông, nơi dòng suối Thân lắng nước từ thượng nguồn đổ về, rồi mới tiếp tục chảy xuống hạ nguồn.
Hàng chục sơn nữ bỏ công cụ lao động trên những tảng đá lớn, rồi hồn nhiên trút xiêm y, như thể là chốn không người. Các tiên nữ ngồi trên tảng đá, phơi làn da trắng ngần, khua chân dưới nước, nói cười rổn rảng, khiến cảnh đại ngàn âm u trở nên đẹp như một câu chuyện cổ tích.
Khi đó, tiếng chim rừng ngừng hót, đàn vượn cãi nhau chí chóe trên núi Lìu cũng im bặt. Hình như, gió cũng ngừng thổi. Nhìn từ xa mọi thứ đều mờ ảo trước mắt, chỉ có làn da của các sơn nữ là nổi bật giữa cảnh âm u, nhập nhoạng của chiều tà. Dòng suối Thân già nua, trầm mặc cũng trở nên lung linh, huyền ảo. Cách bến tắm của các sơn nữ, có một bãi tắm của “sơn nam”. Điều kỳ lạ là bãi tắm của đàn ông Bến Thân rất kín đáo, được che kín bởi những lùm cây, những tảng đá lớn, mà nếu không đến gần, thì sẽ không nhìn thấy gì cả. Hơn nữa, đàn ông Bến Thân không khỏa trần hoàn toàn như các sơn nữ. Trong khi đó, các sơn nữ đều khỏa trần 100% và hồn nhiên nô đùa giữa thanh thiên bạch nhật.
Trong khi ngồi quan sát, tôi nhận thấy, đàn ông Bến Thân vào bãi tắm đều đi lối khác, và khi tắm xong, họ lại vòng lối khác để về, chứ không xuôi suối Thân, qua bến tắm của các sơn nữ để về bản. Chị Mai bảo, sở dĩ chị em phụ nữ Bến Thân tắm trần truồng một cách vô tư thoải mái như vậy là vì đàn ông nơi đây không có “thói” nhìn trộm người tắm bao giờ. Theo chị Mai, mặc dù các sơn nữ hồn nhiên tắm tiên như vậy, nhưng nếu xuất hiện người lạ, họ lập tức trốn sau tảng đá, hoặc dìm sâu dưới nước rồi mặc quần áo lại. Trời tối, đứng quan sát từ xa, không thể nào chụp ảnh được, nên tôi cùng Mai “đánh liều” đi qua bến tắm tiên của các sơn nữ Bến Thân. Thấy người lạ, các sơn nữ vơ vội quần áo mặc ngay dưới nước, rồi núp sau những tảng đá nhìn tôi như người ngoài hành tinh. Một số sơn nữ cẩn thận, sợ có người lạ bất chợt đi qua thì quấn váy trên đầu trong khi tắm. Khi phát hiện ra người lạ, người đẹp tắm tiên chỉ việc gỡ váy trùm kín cơ thể, rồi nàng hồn nhiên lên bờ mặc quần áo. Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Hữu Nhàn (Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Phú Thọ) là người đã có mấy chục năm ăn rừng ngủ thác nghiên cứu phong tục tập quán đồng bào ở Thanh Sơn và Tân Sơn. Ông luôn đau đáu với những giá trị văn hóa của vùng đất bản bộ Vua Hùng.
Theo ông Nhàn, cũng như nhiều tập tục khác, tắm suối là nét văn hóa có từ hàng ngàn năm trước. Sau mỗi buổi lao động mệt nhọc trên nương, các bà, các chị, các em đều trầm mình tắm gội dưới suối trước khi về nhà. Làn nước mát lành làm sạch sẽ bụi bặm, trả lại nước da trắng ngần mà núi rừng và tạo hóa hàng ngàn năm mới tạo nên được. Sau buổi tắm suối, bao nỗi mệt nhọc trôi theo dòng nước, con người như được tiếp thêm nguồn năng lượng mới. Do đó, theo ông Nhàn, việc bảo tồn nét văn hóa này cũng là điều cần thiết. Tôi chợt khi nghĩ rằng, chỉ thời gian không xa nữa, con đường vào Bến Thân hoàn thành, người miền xuôi và đồng bào Bến Thân sẽ có sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ. Và rồi, nhiều phong tục tập quán đặc sắc của đồng bào nơi đây sẽ mất đi. Bến tắm cũng sẽ vắng bóng tiên nữ, giống như bến tắm ở bản Xuân và Lai Đồng thuở nào.


Nguon: photphet